1.[z-qhx] (H) [qhx] (H) [xhds] (H) [stls] (H) [tacs] (H) [db] (H) [gfv] (H) [news] (H) [TdDcNq] [H] - 2.DOWNLOAD TaiLieu - 3. VUOT TUONG LUA - 4.[Chu Viet] - 5.[Audio] 6.[SuThat] - 7.[Thu doan cs d/v Ton giao] (10.H_mt) (11.H_qh)

jeudi 31 mai 2007

Rất Đáng Bị Lên Án


Rất Đáng Bị Lên Án
Phạm Hồng Sơn - VN

“… mọi âm mưu hay thủ đoạn nhằm ức chế, triệt tiêu quyền tự do hay lương tâm của đảng viên muốn hành động vì lợi ích dân tộc đều rất đáng bị lên án …”



Báo Nhân dân ( cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Việt nam) ngày 25/05/2007 đã đăng một tư liệu trong chuyên mục “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tư liệu đó nguyên văn như sau:

“Phải giữ kỷ luật
Hồ Chí Minh

Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên. Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên. Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi. Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.

Không ai bắt buộc ai vào Đảng làm chiến sỹ xung phong. Đó là do sự “ tự giác”, lòng hăng hái của mỗi người mà tình nguyện làm đảng viên, làm chiến sỹ xung phong. Đã vậy, thì mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc.

Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc. Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất cả quần chúng noi theo.
Cũng vì lợi ích của dân tộc, mà Đảng cần phải khuyến khích và khen thưởng những ưu điểm và tài năng của đảng viên. Cần phải giúp cho họ học hành, giúp cho họ làm việc và tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ về mặt sinh hoạt, trong lúc ốm đau. Khiến cho họ ham làm việc, vui làm việc. Nói tóm lại: mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải hoàn toàn phục tùng lợi ích của Đảng. Không nên có mục đích cá nhân. Không nên vì cá nhân mà yêu cầu Đảng cái này cái khác, hoặc trách móc Đảng không giúp đỡ mình, không khen thưởng mình.

Đồng thời, bất kỳ hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải luôn luôn ra sức làm việc, cố gắng học tập để nâng cao trình độ văn hóa, trí thức và chính trị của mình. Luôn luôn giữ kỷ luật. Luôn luôn xứng đáng một người cán bộ, một người đảng viên.”

Trích: Hố Chí Minh toàn tập t. 5, Nxb. Chính trị quốc gia Hà nội, 1995, trang 253.

Trong bài viết này, Hồ Chí Minh, ngay từ đầu đã đưa ra mối liên hệ có tính lô-gíc nhân quả một chiều giữa 03 chủ thể (Dân tộc, Đảng, Đảng viên) làm cơ sở cho những lập luận và kiến giải tiếp theo, đó là “Lợi ích của dân tộc, gồm có lợi ích của Đảng. Lợi ích của Đảng, gồm có lợi ích của đảng viên“ lợi ích từ cái toàn cục (dân tộc) đến cái bộ phận lớn( đảng), từ cái bộ phận lớn (đảng) đến cái bộ phận nhỏ hơn (đảng viên). Nhưng, tiếp theo Hồ Chí Minh kết luận “Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc, một mặt tức là thành công của đảng viên“, trong kết luận này, Hồ Chí Minh đã đi ngược trật tự lô-gíc ban đầu giữa chủ thể 1 (Dân tộc) và chủ thể 2 (Đảng) khi cho rằng lợi ích (sự phát triển và thành công) của cái bộ phận lớn (đảng) là lợi ích của cái toàn cục (dân tộc).

Như thế, rõ ràng Hồ Chí Minh đã nhầm lẫn lớn hoặc đã cố tình đánh tráo trật tự lô-gíc cơ sở ban đầu để đi đến một kết luận sai lầm “Vì vậy, sự phát triển và thành công của Đảng, một mặt tức là thành công của dân tộc”. Kết luận này chỉ có thể là một khả năng chứ không thể là một hệ quả tất yếu. Có thể tài sản và quyền lực của đảng cộng sản ngày càng gia tăng nhưng dân tộc lại chịu thất bại với những vấn đề nan giải ( tài nguyên và ngân sách quốc gia bị đục khoét, môi sinh bị hủy hoại, bất công xã hội gia tăng, giá trị đạo đức xã hội bị đảo ngược,…).

Đến kết luận thứ hai “Vì vậy, chỉ có khi Đảng thành công và thắng lợi, thì đảng viên mới có thể thành công và thắng lợi”, thì Hồ Chí Minh đã loại bỏ hoàn toàn chủ thể 01 (Dân tộc, chủ thể bao trùm toàn bộ) bằng cụm từ khẳng định “, chỉ có khi Đảng…” và cũng là sự phủ nhận tác động của chủ thể 01 (dân tộc) với chủ thể 03 (đảng viên) để chỉ nói đến mối liên quan lô-gíc thứ hai giữa chủ thể 02 (đảng, cái bộ phận lớn) và 03 (đảng viên, cái bộ phận nhỏ hơn) và từ đó đi ngay đến kết luận cuối cùng “Chính vì vậy mà đảng viên cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng.” Cách lý luận có hình thức lô-gíc nhưng sai lầm này, thường được các nhà học thuật gọi là sự ngụy biện hay thuật ngụy biện.

Kết luận cuối cùng vừa dẫn dễ làm cho người đọc hoặc đảng viên (cộng sản) ngộ nhận rằng sự hy sinh cho đảng cộng sản cũng tức là hy sinh cho dân tộc. Đây là một sự ngộ nhận vô cùng nguy hiểm cho dân tộc. Khi bị ngộ nhận như thế, các đảng viên và dân chúng dễ dàng trở thành các tín đồ xả thân cho mọi tham vọng của đảng với một niềm tự hào nhầm lẫn “vì dân tộc”, bất chấp các hậu quả khôn lường cho xã hội, dân tộc. Thuật ngụy biện thường được áp dụng trong tuyên truyền của các đảng phái cực đoan trên thế giới đã gây hậu quả thảm khốc cho dân tộc đó hoặc nhân loại như đảng Quốc xã của Hitler (nạn diệt chủng Do thái, gây chiến thế giới), đảng cộng sản Khmer đỏ (nạn diệt chủng tại Cam-pu-chia), đảng cộng sản Trung quốc (thảm họa trong Cách mạng Văn hóa, Chương trình đại nhảy vọt,…)

Quyền lợi hay lợi ích của một đảng phái không và không bao giờ đồng nhất hoàn toàn với quyền lợi và lợi ích của cả một dân tộc, do đảng phái đó chỉ là tập hợp của một số người, trong khi toàn thể dân tộc là tập hợp của rất nhiều cá nhân khác, các nhóm người khác, các hội đoàn, đảng phái khác có quan điểm và lợi ích hoàn toàn khác với đảng phái đó. Cho dù đảng đó có tuyên ngôn, tuyên bố là “chỉ vì lợi ích của dân tộc” hay “ngoài lợi ích dân tộc, không có lợi ích gì khác” thì cái thực tế đa nguyên sống động của xã hội loài người (thế giới tự nhiên) cũng không thể đồng nhất được với bất kỳ một đảng phái “tốt đẹp” nào.

Phần tiếp theo của tư liệu kể trên chỉ là sự diễn giải tiếp nối 03 kết luận sai lầm đã dẫn, có mục đích rõ ràng là làm cho người đảng viên cộng sản Việt nam “cần phải hy sinh lợi ích của mình cho lợi ích chung của Đảng” và “không nên vì cá nhân mà yêu cầu Đảng cái này, cái khác, hoặc trách móc Đảng không giúp đỡ mình, không khen thưởng mình”.

Với tư cách là người sáng lập ra đảng cộng sản và là chủ tịch đảng lúc đó, Hồ Chí Minh cố gắng lý luận, kể cả ngụy biện như trên để thuyết phục, kêu gọi sự trung thành, hy sinh của các đảng viên của ông cũng là điều dễ hiểu. Nhưng với tư cách là một chủ tịch nước, sự lập luận và kêu gọi đó của Hồ Chí Minh đã là sự tổn hại đến lợi ích của Dân tộc, điều đó là hoàn toàn không thể chấp nhận.

Ngay cả đã vào đảng, mỗi đảng viên cộng sản, trước hết, cũng đều là một công dân của nước Việt nam, là con của dân tộc Việt nam, vì vậy sự trung thành hay hy sinh cho đảng của các đảng viên cộng sản chỉ đúng đắn khi sự trung thành, hy sinh đó phù hợp với quyền lợi và lợi ích của dân tộc. Mỗi đảng viên cộng sản cho dù phải tuyên thệ và bị ràng buộc vào điều lệ đảng thì họ vẫn luôn còn đầy đủ quyền tự do của một công dân, vẫn luôn còn lương tâm của một con người để dám khước từ những hành động có lợi cho đảng nhưng có hại cho dân tộc và sẵn sàng đảm nhận hành động có lợi cho dân tộc cho dù ảnh hưởng tới đảng.

Trong đêm trường phong kiến của phương Đông trước đây, các bậc sĩ phu cũng đã tự răn mình “Tòng đạo bất tòng quân” (làm theo đạo lý, lẽ phải chứ không làm theo vua). Chính vì vậy mà mọi âm mưu hay thủ đoạn nhằm ức chế, triệt tiêu quyền tự do hay lương tâm của đảng viên muốn hành động vì lợi ích dân tộc đều rất đáng bị lên án.

Phạm Hồng Sơn
28/05/2007

Bài học Việt Nam cho Iraq

31 Tháng 5 2007 - Cập nhật 17h20 GMT
Bài học Việt Nam cho Iraq


Kissinger: Không nên thảo luận quá gay gắt tới nổi không tìm ra được giải pháp

Trong cuộc chiến Việt Nam có một lúc khi những cuộc thảo luận trên nước Mỹ lên tới mức quá gay gắt đến nổi mọi cuộc bàn thảo hợp lý nhất để tìm một giải pháp dù là nặng tay để giải quyết , đã bị gạt ra bên ngoài.
Ông Henry Kissinger, cựu thành viên trong Hội đồng An ninh Quốc gia và sau đó là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã viết như trên trong một bài xã luận đăng trên tờ Los Angeles Times số ra ngày 31 tháng Năm 2007.

Ông viết thêm rằng tình trạng tiến thoái lưỡng nan này đã bóp chết tất cả các nỗ lực của Hoa Kỳ tại Việt Nam, và không nên để xảy ra tại Iraq.

Chúng ta phải gạt bỏ huyền thoại cho rằng chính quyền Nixon cầm quyền năm 1972 với các điều kiện đưọc đặt ra hồi năm 1969, do đó đã kéo dài cuộc chiến một cách không cần thiết.

Liệu Hiệp Định Paris ký hồi tháng Giêng năm 1973, có khả năng bảo toàn được một miền Nam Việt Nam độc lập và tránh được cảnh đổ máu sau khi Đông Dương rơi vào tay Cộng Sản, thì cho đến giờ này không ai biết được.

Những gì chúng ta biết là tình trạng mất đoàn kết tại nước Mỹ đã không đưa ra một hệ quả như vậy khi mà Quốc Hội Mỹ biểu quyết cấm xử dụng sức mạnh quân sự để giữ vững Hiệp Định này và đồng thời cắt viện trợ quân sự sau khi tất cả các quân nhân Mỹ -ngoại trừ vài trăm cố vấn quân sự -đã rời miền Nam Việt Nam.

Quân đội Mỹ ra đi khiến cho bộ đội Bắc Việt Nam ồ ạt xăm lăng, vi phạm rõ rệt các thỏa hiệp đã ký kết, và các nước mà đã hậu thuẫn cho các thỏa hiệp này đã quay lưng lại.

Ôn cố tri tân

Có hai câu hỏi đưọc nêu lên từ cuộc chiến Việt Nam mà vẫn còn giá trị cho cuộc chiến Iraq.

Thứ nhất: Liệu biện pháp đơn phương rút quân là một sự lựa chọn khi ông Nixon lên cầm quyền ?

Thứ nhì : Liệu thời gian dành cho chiến lược mà ông Nixon đề ra, có lâu hơn là thời gian dân chúng mong đợi để có được kết quả, cho dù kết quả đó có ra sao đi chăng nữa hay không ?

Khi ông Nixon lên cầm quyền, thì lúc đó có hơn 500.000 binh sĩ tại Việt Nam, và con số này càng ngày càng tăng.

Lập trường chính thức của chính quyền Johnson là quân đội Mỹ sẽ bắt đầu triệt thoái sáu tháng sau khi Bắc Việt rút quân.

Quan điểm " bồ câu" của hai thượng nghị sĩ Robert F.Kennedy và George McGovern, bị đại hội đảng Dân Chủ bác bỏ hồi năm 1968, cho rằng hai bên phải rút quân.

Không có một nhóm nào lúc đó chủ xướng phải đơn phương rút quân cả.

Không khả thi

Giải pháp đơn phương rút quân là không khả thi, bởi vì tái bố trí hơn nửa triệu binh sĩ là một cơn ác mộng trên phương diện tiếp vận, ngay cả trong thời bình.

Tại Việt Nam lúc đó có hơn 600.000 bộ đội cộng sản võ trang có mặt trên chiến trường, và rất có thể sẽ có một số đông binh sĩ trong quân đội miền Nam Việt Nam sẽ có động thái có lợi cho cộng sản, vì cảm thấy bị đồng minh bỏ rơi.

Trong tình huống này, quân đội Hoa Kỳ sẽ biến thành con tin và thường dân sẽ trở thành nạn nhân.

Vào lúc đó, cũng không hề có một giải pháp ngoại giao nào khác.

Hà Nội nhất mực cho rằng muốn có được ngưng bắn, thì Hoa Kỳ phải thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết.

Thứ nhất, Hoa Kỳ phải lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, giải tán cảnh sát và quân đội và thay thế bằng một chính phủ mà đa số thành viên là cộng sản.

Thứ nhì, Hoa Kỳ phải lập ra một thời biểu rút quân vô điều kiện mà Hoa Kỳ phải tuân thủ bất kể các cuộc đàm phán liên hệ có kéo dài đến đâu đi chăng nữa.

Sự hiện diện của bộ đội Bắc Việt tại Lào và Kampuchea được tuyên bố không phải là một đề tài thích hợp để đàm phán.


Các điều kiện do TT Nixon đưa ra vào tháng Giêng 1972 đã được chấp thuận

TT Nixon đã tóm lược một cách chính xác các lựa chọn khi ông bác các điều khoản 1969 như sau:

"Liệu chúng ta sẽ rời Việt Nam trong cung cách này - bằng chính hành động của mình - và giao đất nước này một cách có ý thức cho cộng sản chăng ? Hay chúng ta nên rời đất nước này và tạo cho người miền Nam Việt Nam có được một cơ hội hợp lý để sống còn như là dân tộc có được tự do ?"

Iraq cũng giống như Việt Nam

Trong hiện trạng nước Iraq, giải pháp đơn phương rút quân đã tạo ra một vấn đề tương tự.

Khi cách cuộc đàm phán bế tắc, chính quyền Nixon đã xoay sở hết mức để hành động đơn phương, mà không phá tán đi cơ cấu chính trị của miền Nam Việt Nam.

Từ năm 1969 đến năm 1972, Hoa Kỳ đã rút đi 515.000 binh sĩ, chấm dứt vai trò chiến đấu vào năm 1971 và giảm số thương vong người Mỹ đến gần 90%.

Do đó, một cuộc rút quân từng phần mà ngăn ngừa được các tín đồ Hồi giáo chiếm lĩnh tình thế tại Iraq cũng là một thách thức nghiêm trọng tại nuớc này.

Tại Việt Nam, vào năm 1972 chiến lưọc mà chính quyền Nixon đề ra đã bất ngờ tạo ra được một đột phá trùng với chiến dịch phản công lại tổng tấn công mùa xuân của Bắc Việt.

Khi Hoa Kỳ gài thủy lôi trong các vịnh ở miền Bắc, Hà Nội cảm thấy bị cô lập, vì Bắc Kinh và Liên Xô đứng ngoài cuộc nhờ Hoa Kỳ mở cửa thân thiện với Trung quốc vào năm 1971 và hội nghị thượng đĩnh năm 1972.

Cuộc tấn công của Hà Nội đã bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa đánh bại hoàn toàn với sự yểm trợ của hỏa lực không quân Mỹ.

Khi đối diện với thất bại quân sự và bị cô lập về ngoại giao, ông Lê Đức Thọ, thương thuyết gia chính của Hà Nội đã bỏ các yêu sách năm 1969 của Hà Nội vào tháng 10 năm 1972.

Ông công khai chấp nhận các điều kiện do TT Nixon đưa ra vào tháng Giêng 1972.

Thuận lợi và trở ngại

Hiệp định Paris đưa đến kết quả là Bắc Việt chấp nhận ngưng bắn vô điều kiện và trao trả tù binh, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục hiện diện, Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự cho chính phủ này, lực lưọng Bắc Việt không được xăm nhập miền Nam, quân đội Hoa Kỳ tiếp tục rút số quân còn lại, bộ đội Bắc Việt phải rút ra khỏi Lào và Kampuchea.

Quan trọng hơn hết là không có điều nào nêu trên có trong thỏa thuận năm 1969.

Chính quyền Nixon quả tin rằng đã đạt được một cơ hội cho nhân dân miền Nam Việt Nam để tự định đoạt được số phận, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có đủ sức để vượt qua các vụ vi phạm Hiệp Định Paris bằng chính sức mạnh quân sự của mình, Hoa Kỳ sẽ chỉ trợ giúp trong trường hợp có tấn công toàn diện và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ đủ năng lực để xây dựng xã hội.

Sự mất đoàn kết trong xã hội Hoa Kỳ là một yếu tố quan trọng phá tán đi tất cả các hy vọng này. Vụ Watergate đã đánh một đòn chí tử vào chính quyền Nixon và cuộc bầu cử quốc hội giữa kỳ năm 1974 đã đưa đối thủ của ông Nixon lên cầm quyền.

Viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa đã bị cắt đứt do đó hiệp định Paris không được thưc thi đúng mức như đã được dự trù.

Có hai bài học đã xuất hiện từ sự thể này cho tình hình Iraq : thứ nhất bất cứ một mô hình chiến lược nào cũng không thể thành công nếu có một thời hạn chót máy móc, cứng nhắc, mà phải phản ánh được điều kiện thực tế tại chỗ. Thứ nhì là một giải pháp chính trị vẫn là một điều bắt buộc.


BBC

Kissinger
Kissinger NSA

mercredi 30 mai 2007

Ngày Nào Gọi Là “Giải Phóng Miền Nam” Là Ngày Đó Gia Đình Tôi Tan Nát

Thứ Ba, ngày 29 tháng 5 năm 2007
Ngày Nào Gọi Là “Giải Phóng Miền Nam” Là Ngày Đó Gia Đình Tôi Tan Nát
--------------------------------------------------------------------------------
• Vũ Thanh Phương


Vũ Thanh Phương

Chỉ còn mấy ngày nữa là cả nước, nhất là đồng bào miền Nam kể từ phần đất phía bờ Nam sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị sẽ bồi hồi, đau đớn kỷ niệm 32 năm ngày sụp đổ hoàn toàn cả nền chính trị cộng hòa. Và cũng là ngày nửa phần đất dải phía Nam Tổ quốc này rơi vào tay những người Cộng sản miền Bắc Việt nam. Khi phải nhắc lại vết thương đến đau lòng sau 32 năm chưa được hàn gắn do chính quyền cộng sản ác độc gieo rắc cho gia đình chúng tôi có biết bao nhiêu vấn nạn cần nói tới…

Gia đình chúng tôi gốc là dân di cư năm 1954 theo Đạo Thiên Chúa Giáo toàn tòng vùng Bùi Chu Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình thuộc miền Bắc Việt nam. Đến tháng 7 năm 1954 theo hiệp định đình chiến Giơ Ne Vơ để lập lại hòa bình tại Đông Dương cả gia đình chúng tôi di cư vào miền Nam để định cư. Tuy là một gia đình nông điền thuần túy, nhưng gia đình chúng tôi hồi đó ở miền Bắc trước khi di cư vào Nam năm 1954 đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tương đối đủ đầy. Cha Mẹ tôi vốn là những người siêng năng cần mẫn chăm chỉ làm lụng quanh năm với ruộng rẫy và thờ phượng Chúa. Ước nguyện của cả đời ông chỉ muốn con cái mình được ăn học khôn lớn thành tài để phục vụ gia đình, lợi ích Tổ quốc và dân tộc. Bởi qua trải nghiệm của chính cuộc đời bản thân mình, vì ông vốn là người nông dân nghèo khổ, thất học không biết chữ nên rất thiệt thòi. Khi mới 12 tuổi Cha tôi đã bị mồ côi cả bố lẫn mẹ, ở tuổi 12 đó cha tôi phải đi chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê ở đợ cho các gia đình giầu có quanh vùng để tự kiếm sống, nên ông luôn luôn có chí hướng và nỗ lực phấn đấu không ngừng để vượt lên số phận nghèo khó, không may bất hạnh ấy của mình.

Sau khi vào tới miền Nam, cha mẹ tôi cùng với nhiều đồng bào đồng cảnh ngộ di cư vào Nam hồi đó như mình đã quyết định lập nghiệp tại phường Tân Mai – thành phố Biên Hoà. Tôi cũng còn được người lớn và cả bố mẹ tôi kể lại là chính phủ Việt nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm thời đó đã quy hoạch vùng này cho tất cả giáo dân Bùi Chu Phát Diệm di cư từ Bắc vào xây dựng quê hương mới tại đó. Với bản chất cần cù, chịu thương, chịu khó, nên khi bỏ nhà cửa, ruộng vườn, toàn bộ gia sản ở lại quê hương vùng Bùi Chu Phát Diệm tỉnh Ninh Bình miền Bắc để chạy vào Nam chỉ với hai bàn tay trắng hoàn toàn vô sản. Thế mà, bằng sự cần cù siêng năng nên hơn 4 năm sau vào năm 1959, cha mẹ tôi đã dẫn dắt cả gia đình vượt qua được cuộc sống nghèo khổ để vươn lên thành khá giả, đẩy cuộc đời người nông dân lam lũ tăm tối quanh năm như dưới thời sống ở Bắc Việt lùi xa, lùi xa dần vào dĩ vãng….



Năm 1971, vào lúc cuộc chiến tranh nhằm thôn tính nốt nửa phần miền Nam của đất nước này do những người cộng sản miền Bắc tiến hành ở miền Nam đang leo thang đến cao điểm. Những người cộng sản miền Bắc Việt Nam chủ chiến đã dùng mọi cách thức, mọi biện pháp phá hoại làm cả xã hội miền Nam lao đao, hỗn loạn, thậm chí băng hoại về đạo đức xã hội nghiêm trọng. Vì muốn tránh tệ nạn xì ke, ma tuý cho các anh trai ruột của tôi, nên cha mẹ tôi đã quyết định rời bỏ cuộc sống nơi phố phường tấp nập để lên miền rừng sơn cước xa xôi hẻo lánh. Lúc đó gia đình, bố mẹ chúng tôi đã bán 2 căn nhà và thu gom hết tài sản lên rừng lập nghiệp vì mong muốn có tương lai tốt đẹp cho con cái mai sau. Và cũng chỉ sau một thời gian ngắn ngủi vào những năm khi dời bỏ cuộc sống nơi đô hội phồn hoa ở thành phố công nghiệp Biên Hòa để “di cư lần thứ 2 này ”, nên gia đình chúng tôi đã mau chóng trở thành một gia đình giàu có nhất nhì vùng đó. Nhưng cũng oái ăm và thật là một mối nguy hiểm, chính vì như vậy nên gia đình chúng tôi đã lọt vào tầm ngắm của những người hoạt động du kích và bộ đội cộng sản trong rừng quanh khu vực mà gia đình tôi đang sinh cơ lập nghiệp. Cha mẹ tôi và người lớn kể lại là vào thời kỳ đó tất cả mọi người dân luôn phải tuân theo qui định của những du kích và cán bộ Việt cộng đang lẩn lút trong rừng đã tuyên bố bằng miệng mà không hề có văn bản, cho dù là văn bản rừng rú với dân chúng trong vùng như : ai cũng phải đóng thuế ruộng, thuế rừng, ai muốn khai hoang, khai thác lâm sản phải xin phép bọn họ….Thậm chí hàng tháng phải cống nạp đủ thứ thực phẩm, lương thực như : gạo, mắm, thuốc Tây, vải vóc quần áo, tiền bạc, cá khô, muối v…v… để chu cấp cho chúng tồn tại cuộc sống ẩn nấp trong rừng rậm và hoạt động chống phá chế độ do chánh phủ Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Cứ mỗi khi bọn họ lên tiếng cần là phải đáp ứng đầy đủ không được thiếu thứ gì mà chúng muốn. Ngược lại, bằng không người dân khó có thể sống được yên ổn ở vùng đó với chúng, mà gia đình chúng tôi cũng không bị loại trừ. Nếu ai ngoan cố không đáp ứng thực hiện các đòi hỏi này thì đêm đêm bọn họ cho du kích xâm nhập từ rừng núi xuống sẽ đốt cháy nhà, thiêu hủy toàn bộ gia sản thậm chí đánh và bắt người đưa vào rừng tra khảo, khủng bố rồi bắt phải cam kết sẽ cống nộp cho họ những nhu yếu phẩm mà họ cần. Hồi đó tôi còn rất bé mới 5 -6 tuổi thôi, nhưng tôi đã hiểu và thường xuyên để ý đến những việc hay xảy ra này, đó là một thứ tội ác chống lại con người, chống lại xã hội văn minh, chống lại những người nông dân hiền lành vô tội. Vậy thì làm sao có thể gọi họ là “những người cách mạng tiến bộ, là những chiến sĩ giải phóng đồng bào miền Nam ruột thịt khỏi ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ và tay sai ???!!! Làm sao có thể gọi họ là đấu tranh để giải phóng giai cấp khỏi bộ máy thống trị và bóc lột, trong khi họ đánh vào cả những người nông dân, kể cả những người lao động nghèo khổ như vậy được ???”. Có rất nhiều lần mỗi khi sáng dậy qua một đêm ngủ, tôi lại nghe người lớn nói chuyện với nhau : “Đêm qua chúng lại về đốt nhà đấy ”. Những chuyện như thế vẫn thường xuyên xảy ra ở địa phương tỉnh Đồng Nai của tôi thời còn chiến tranh. Ngày đó bố mẹ tôi cũng phải nộp thuế và cống nạp lương thực, thực phẩm hàng tháng rất đều đặn cho bọn họ, rồi hàng hóa được chở bằng những chiếc máy cày của gia đình tôi vào căn cứ trong rừng sâu cho chúng. Việc đóng góp lương ăn và các đồ dùng cần thiết khác như vậy rất thuận lợi và giữ được bí mật tuyệt đối mấy năm trời mà phía cảnh sát, quân đội và chánh quyền Việt Nam Cộng hòa không hề phát hiện ra. Cũng nhiều khi họ cho người từ trong rừng ra buộc bố tôi phải vào căn cứ của họ để “làm việc khẩn cấp”. Những lúc như vậy, khi bố tôi phải ra đi với họ mấy ngày liền làm mẹ tôi và cả nhà rất lo lắng đứng ngồi không yên, chỉ vì lo sợ bố tôi ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại nữa….

Còn chuyện này mà tiện đây cũng xin kể lại cùng quý vị. Ấy là hồi trước năm 1975 bố mẹ tôi có gởi tiền tiết kiệm ở Ngân hàng Đại Nam chi nhánh tỉnh Long Khánh tới 4.000.000 đồng VN chẵn - tiền thời VNCH, đồng tiền thời đó có giá trị cao lắm. Khi kết thúc cuộc chiến ở miền Nam, gia đình tôi muốn rút hết ra để chi tiêu vì quá nghèo khổ, lúc đó hoàn cảnh cả nhà tôi 11 người bị chánh quyền CS mới tiếp thu miền Nam đuổi ra khỏi nhà chỉ với 2 bàn tay trắng đã phải lang thang vạ vật, màn trời chiếu đất rồi. Thế nhưng họ kiên quyết không cho rút số tiền bạc là mồ hôi công sức của cả nhà và bố mẹ tôi ra khỏi Ngân hàng mà họ đang kiểm soát. Lần cuối cùng bố tôi chỉ rút được 600.000 VNĐ tiền chế độ mới đã mất giá rất nhiều so với trứơc vào ngày 23 tháng 2 năm 1977, số còn lại họ tuyên bố không trả nữa. Như vậy là họ đã tước đoạt nốt gia sản của cả nhà tôi thật trắng trợn và táng tận lương tâm. Hiện nay gia đình tôi vẫn còn giữ tất cả những chứng từ giao dịch với Ngân hàng này vào những năm 1976-1977, kể cả đơn viết tay xin rút tiền của bố tôi lúc đó….

Vậy là, hình ảnh và ấn tượng về những người cộng sản Việt Nam đã hằn sâu trong ký ức khó có thể phai mờ từ thủa ấu thơ khi tôi khi còn rất bé bỏng, chỉ chập chững tập đi và sống trong tình yêu thương của cha mẹ tôi như thế đấy !!!

Tôi cũng như cả nhà chúng tôi hoàn toàn có quyền căm thù họ đến xương tủy vì những tội ác mà họ đã gây ra cho bố mẹ tôi và tất cả 9 anh chị em ruột thịt trong toàn gia quyến chúng tôi, giống như họ đã gây ra cho hàng triệu các gia đình, cá nhân đồng bào miền Nam nói chung đã là nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản vô nhân đạo, vô nhân tính. Nhưng không !!! Chúng tôi vẫn sẵn sàng bao dung và bỏ qua mọi lỗi lầm ấy cho họ, nếu thực sự họ biết ăn năn, hối hận sửa chữa những sai lầm trong quá khứ trước đây và hiện nay để tỉnh táo phục thiện…



Rồi chiến tranh cũng trôi theo dòng thời gian, cho đến ngày 30 / 4 / 1975 tai bay vạ gió đã ập xuống đầu cả gia đình chúng tôi cũng như ập tràn chụp xuống đầu của cả mấy chục triệu đồng bào miền Nam. Cái ngày mà báo chí của chế độ mới kiểm soát được hoàn toàn miền Nam và tuyên truyền trên cả đất nước này, gọi là “Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thu giang sơn về một mối ”, thì đó cũng chính là ngày gia đình tôi tan nát !!!

Khi cuộc chiến ở Nam Việt nam vừa tắt tiếng súng, tâm lý chung của tất cả đồng bào từ Nam chí Bắc ai ai chả vui mừng khôn xiết, là đất nước đã có hòa bình, chiến tranh đã trở thành quá khứ. Bởi từ nay đất nước không còn cảnh nồi da xáo thịt nữa, không còn cảnh đồng bào ruột thịt trong cùng một nước chém giết lẫn nhau nữa chỉ vì một thứ chủ nghĩa nhập ngoại do những người cộng sản mang về từ Âu Châu ….

Chỉ cách có mấy ngày sau khi đánh chiếm trọn vẹn cả miền Nam, gia đình tôi những tưởng sẽ vĩnh viễn có yên vui hạnh phúc hơn thời chiến tranh trước kia Nên cả nhà ai ai cũng đổ ra đường đón chào “đoàn quân giải phóng” từ rừng núi trở về tiếp quản mọi cơ sở vật chất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũ. Nhưng đồng bào cả miền Nam đã lầm to, đã vỡ lẽ ra sự thật. Bắt đầu từ đây, cái ngày bi thảm này đã trở thành ngày uất hận cho tất cả đồng bào từng sống dưới chế độ cộng hòa và tự do trên dải đất ở vị trí phía Nam nửa đất nước này. Bởi vì mục đích cuộc chiến tranh mà những người cộng sản miền Bắc phát động và tiến hành không phải để cho đồng bào trong Nam cũng như cả nước được tự do, dân chủ, hạnh phúc đủ đầy hơn trước. Mà mục đích chính của họ là muốn áp đặt lên đầu lên cổ cuộc sống của đồng bào miền Nam cái tai ách của thể chế chính trị mang danh chủ nghĩa xã hội và cộng sản kia ….



Ngay sau khi tràn vào nhà tôi các du kích và cán bộ cộng sản từ trong rừng ra đã chụp mũ qui kết, xuyên tạc, vu khống, dựng tội là Cha tôi làm việc cho cục tình báo CIA của chánh phủ Hoa kỳ. Để từ đó họ có cớ mà ra tay tước đoạt khối tài sản khổng lồ mà Cha mẹ chúng tôi đã phải đổ biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt và công sức để tạo lập. Vậy thử hỏi làm sao gia đình tôi có thể coi họ là những người vì dân vì nước, những người cách mạng văn minh, những người đến để giải phóng cho nhân dân miền Nam đang bị cùm kẹp được ???

Khi ra tay tước đoạt tài sản của gia đình tôi, bọn họ không hề có một căn cứ pháp luật nào để khẳng định Cha tôi là nhân viên của cục tình báo CIA - Mỹ. Họ đã không có 1 quyết định nào, tài liệu hay văn bản nào, ấy thế mà họ dám ngang nhiên cướp đoạt tài sản của gia đình tôi một cách sạch sẽ và trắng trợn. Bọn họ trên thực tế đã chỉ dùng cường quyền thay cho pháp luật, dùng súng đạn, nhà tù và đàn áp nhân dân thay cho đạo lý và công lý. Bọn họ đã ỷ vào sức mạnh của một nhà nước độc tài chuyên chế để bắt buộc gia đình chúng tôi gồm 11 người phải rời ngay tức khắc khỏi nhà, rời bỏ ngay khỏi địa phương để ra đi chỉ với hai bàn tay trắng. Vậy tôi thử hỏi các ngài tổng bí thư của ĐCSVN, chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam, chủ tịch quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, thủ tướng chánh phủ nước CHXHCN Việt Nam cùng tất cả các quan chức, đảng viên CSVN lớn nhỏ mấy triệu người và những ai có lương tri, thì hành vi đó của những cán bộ cộng sản có phải là một tội ác tày trời, vô nhân đạo đến tột cùng cho gia đình một nông dân như hoàn cảnh gia đình chúng tôi lúc đó không ? Cho nên tôi rất đồng tình phần nào với câu nói của cựu thủ tuớng nhà nước CSVN Võ Văn Kiệt năm 2005 là : “ Chiến tranh kết thúc đã làm cho hàng triệu người vui, nhưng cũng làm cho hàng triệu người buồn….” là vậy. Tôi liên hệ cảnh ngộ của gia đình tôi thì thật đúng là đã rơi vào số hàng chục triệu gia đình miền Nam Việt nam phải đau buồn như vậy đấy…

Sau khi đã tước đoạt sạch sẽ được khối tài sản của gia đình tôi. chính quyền huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai đã dùng căn nhà đó làm cơ quan của ban tuyên huấn huyện ủy Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai (cơ quan trong hệ thống của đảng CSVN ) và lấy đó làm nơi gây nhiều tội ác với nhân dân trong huyện. Bọn chúng đã bắt biết bao nhiêu người vô tội về đó đánh đập, khảo đả và tra tấn. Cha tôi cũng là 1 trong những người bị truy lùng gắt gao để bắt bớ. Lúc đó quyền lực của bọn họ vô cùng lớn và làm cho nhân dân rất ghê sợ. Bọn họ hình như đã đem luật từ rừng ra để hành xử với cả một xã hội văn minh. Nên tâm lý chung của dân chúng cả miền Nam rất khiếp đảm, hoảng loạn trước nền chính trị man rợ của đảng CS cố tình áp đặt, úp chụp lên cả đất nước khốn khổ này. Vì thế hàng chục triệu người dân cả ở miền Bắc và miền Nam sau cái ngày gọi là được giải phóng đó đã phải liều mạng chốn chạy, vượt biên để tìm cách ra nước ngoài đến những nơi có chế độ tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền để sinh sống

Cái ngày gọi là giải phóng hoàn toàn miền Nam đã xảy ra bi thảm và đến nay vẫn chưa chấm dứt cách đây gần 1/3 thế kỷ , mà hoàn cảnh gia đình chúng tôi chỉ là một cảnh ngộ bi đát như thế đó !

Chính quyền cộng sản tỉnh Đồng nai đã xô đẩy cả gia đình chúng tôi vào cảnh nhà tan cửa nát, và cũng không riêng gì gia đình chúng tôi mà có đến hàng chục triệu gia đình Việt nam rơi vào hoàn cảnh bi thương như vậy. Ngày đó, bọn họ cùng với những người lính cộng sản ngây ngô từ rừng núi kéo xuống với vũ khí súng ống lăm lăm trong tay đã tràn vào khắp đô thị, phố phường, làng xóm thôn quê miền Nam để bắt đầu lục soát vơ vét, chiếm đoạt tài sản của Nhân dân một cách vô tội vạ, thoải mái. Họ đã làm cả miền Nam lúc đó sống trong lo âu hoảng loạn và hãi hùng…Giải phóng mà thế này ư ? Cách mạng mà là thế này sao ?



Ngày 30 – 4 - 1975 đối với tôi nó đã trở thành ngày uất hận, nghẹn ngào đau xót. Tôi căm phẫn những ai đã gây ra cho đồng bào cả nước mọi đau khổ, nghèo đói lầm than đến tận xương tủy. Vì những kẻ ác đức và vô nhân đó quá dã man và tàn bạo. Tại sao họ lại có thế mù quáng dùng chính dân tộc mình để thử nghiệm xây dựng một thể chế XHCN không tưởng, phản khoa hoc đến như vậy được nhỉ ?
Ngay từ khi còn rất nhỏ tôi đã có những suy nghĩ và nhận xét về chế độ mà các đảng CS trên khắp thế giới áp buộc và thống trị dân tộc mình thực chất chỉ là chế độ độc tài, tàn bạo và đầy rẫy bất công, sẽ chẳng đem đựơc lợi ích gì đến cho nhân dân cả.

Tính đến nay thấm thoát đã 32 năm trôi qua, quả là đáng buồn và lấy làm xấu hổ, vì đảng và nhà nước chưa làm đựơc gì nhiều tốt đẹp cho dân tộc và đất nước. Cho đến nay là thế kỷ 21 rồi mà nước ta vẫn chỉ là một đất nước nghèo nàn, lạc hậu bậc nhất nhì của thế giới. Một đất nước nổi tiếng về thành tích đàn áp nhân dân, đàn áp dân chủ và đàn áp tôn giáo. Phần lớn cán bộ đảng viên có chức quyền thì suy đồi đạo đức, thoái hoá biến chất. Tệ nạn quan chức cộng sản tham nhũng phát triển không gì khống chế được. Bọn tham quan ở khắp các địa phương ra tay cưỡng đoạt đất đai của nhân dân hàng loạt. Khiến cho người dân phải lao đao khổ sở, cuộc sống lầm than cơ cực. Người dân mất đất đai, nhà cửa phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất. Vậy thử hỏi rằng chính quyền và đảng CSVN để nhân dân ai oán như vậy thì họ có còn xứng đáng để lãnh đạo đất nước này nữa hay không ?



Nói về việc oan sai của riêng gia đình tôi sau 32 năm theo đuổi hành trình kêu kiện oan khuất. Cho đến nay chính quyền CS địa phương đã phải công nhận Cha tôi bị quy chụp oan uổng và họ đã tổ chức minh oan cho Cha tôi tại địa phương nơi gia đình tôi sinh sống. Nhưng còn khối tài sản thì các cấp chính quyền vẫn chây lỳ không chịu trả lại cho gia đình tôi. Họ không khôi phục các quyền lợi hợp pháp, không bồi thường thiệt hại theo Nghị Định 47/CP mà luật pháp đã qui định. Họ vẫn còn cố tình vịn vào đủ mọi lý do để chiếm đoạt rồi hợp thức hoá khối tài sản đó của gia đình chúng tôi. Mới đây trong buổi tổ chức đối thoại với đại diện gia đình là 2 chị em tôi tại trụ sở chính quyền huyện Xuân Lộc ngày 23/3/2007 họ còn dám nói rằng :

1. “ Thực tế không gây hậu quả gì đối với gia đình tôi ”.
* Thật là giọng lưỡi quá trắng trợn, lưu manh, gian dối không thể chấp nhận được và nghe xuôi tai. Họ đã gây hậu quả rất nặng nề mà gia đình tôi phải gánh chịu suốt 32 năm nay. Cảnh nhà tan cửa nát, đến 10 năm trời sống ngoài vòng pháp luật, trong cảnh không chứng minh thư, không sổ hộ khẩu gia đình, con cái không được học hành và xin được việc làm. Cha tôi phải chết oan uổng, chết tức tưởi, còn Mẹ tôi thì bị tâm thần mất trí nhớ hoàn toàn. Vậy mà họ còn dám mở miệng nói không gây hậu quả gì cho gia đình chúng tôi. Thế thì tôi hỏi họ có phải là con người nữa hay không ?

2. Gia đình chúng tôi có đủ chứng cứ về nguồn gốc đất theo khoản I điều 50 luật đất đai năm 2003. Những giấy tờ đó của chế độ cũ, có mộc đỏ hẳn hoi. Thế mà bọn họ dám cãi là “không có giá trị pháp lý”.

3. “Xét thấy không có tình tiết mới thì không giải quyết nữa !”

* Gia đình chúng tôi chỉ có mỗi một nguyên tắc và nội dung là :

Họ đã vu oan phải minh oan và đền oan có thế thôi. Còn ai muốn biết thêm tình tiết mới thì mời đến công an. Qua quá trình đi đòi công lý công an VN đã nhiệt tình tiếp tay cho chính quyền của nhà nước CS gây thêm nhiều tội ác mới như : đàn áp đánh đập tôi dã man tại thành phố Sài Gòn ngày 27/11/2000. Mới đây trong dịp hội nghị APEC- 14 tại thủ đô Hà Nội họ lại chỉ đạo công an bắt và giam giữ chúng tôi trái phép nhiều ngày trong trại giam trá hình là trại bảo trợ xã hội huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội. Ngày 27/3/2007 họ lại cho công an Sài Gòn vô cớ bắt, giam giữ tôi để thẩm vấn gần 10 giờ tại công an phường 7 quận 3…. Đó chính là những tình tiết mới phát sinh đấy !!! Vậy họ có dám xử lý những ai đã chỉ đạo những việc làm sai trái, vi phạm pháp luật như vậy không hay lại lờ đi, hoặc bao che cho nhau ?

Tôi cũng phải nói về sự kiện là gần đây nhất ngày 23-3-2007. cơ quan Tổng Thanh Tra Chính Phủ chỉ đạo thành lập đoàn về tỉnh Đồng Nai giải quyết việc khiếu nại của gia đình tôi. Đoàn do Ông Trần Văn Minh cán bộ Vụ 5 làm trưởng đoàn. Qua buổi trực tiếp đối thoại các cấp chính quyền ngày hôm đó giữa tôi các vị quan chức có thẩm quyền ở cả trung ương và địa phương. Tôi thấy ông Trần Văn Minh có nhiều biểu hiện quan liêu xa rời thực tế, nên đã ra sức cố bảo vệ những sai trái do tỉnh Đồng Nai đã gây ra cho gia đình tôi. Ông làm vậy có ý để dẹp quyền khiếu nại tố cáo hợp pháp của gia đình tôi. Việc đó đã đựơc thể hiện rõ trong nội dung biên bản đối thoại tại Đồng Nai ngày 23-3-2007. Những ý kiến mà tôi đã phản bác gay gắt trong cuộc họp không được đưa vào biên bản. Do đó ngay sau đó tôi có đơn tố cáo Đoàn Thanh Tra Chính phủ làm việc, không khách quan, không trung thực, không tôn trọng nhân dân, làm việc hoàn toàn áp đặt và bao che sai trái cho các cấp chính quyền ở địa phương.



Suốt 32 năm, từ cái ngày gọi là “giải phóng hoàn toàn miền Nam” tôi quá chán ngán kiểu cách lề lối làm việc của các quan chức CSVN. Tôi chẳng còn tin gì ở nhà cầm quyền CSVN này nữa. Tất cả những gì mà họ đã tuyên truyền trên ti vi, báo đài ra rả đêm ngày chỉ là sự giả dối lừa mị dân mà thôi. Hoàn cảnh người dân oan chầu chực đi khiếu kiện rất thê thảm đau xót không gì tả xiết, chúng tôi còn biết tin vào ai. Chỉ còn cách cuối cùng là phải đấu tranh đòi tự do, nhân quyền, đòi dân chủ hoá hoàn toàn đất nước. Để mau chóng giải phóng nhân dân sớm thoát ra khỏi nhà tù lớn, thì mới mong tìm được sự công bằng và công lý mà thôi.

Và trong cuộc đấu tranh này, còn 1 việc mà tôi cũng hoàn toàn đồng tình với chị Hồ Thị Bích Khương, một người bạn tranh đấu cùng tôi mấy năm nay ở Mai Xuân Thưởng Hà Nội là kiên quyết vạch mặt kẻ mà chúng tôi không tiện nói tên tuổi đích danh đã len lỏi và trà trộn vào phong trào chung đã núp bóng dân oan đau khổ để kiếm sống suốt mấy năm qua. Cũng chính kẻ đó đã gieo rắc cho dân oan Việt nam quá nhiều khổ đau, nhũng nhiễu, tai nương, phức tạp và chia rẽ mất đoàn kết. Nhưng vì chúng có quá nhiều thủ đoạn tinh vi, lừa lọc dư luận, y đã lừa dối được đồng bào nhất là ở hải ngoại trong một thời gian khá dài. Vụ việc này dư luận đồng bào trong và ngoài nước cần phải biết nhìn thẳng vào sự thật không nên né tránh và nên có thái độ ủng hộ dân oan lương thiện cũng như phong trào tranh đấu đòi dân chủ, công bằng xã hội trong sáng lành mạnh để tiếp thêm nguồn cổ vũ cho anh chị em và bà con trong nước. Kẻ gian manh này đã lập “hội dân oan Việt Nam” giả mạo nhằm mục đích để trục lợi, thị đã dùng rất nhiều ngón đòn và các phương cách lường gạt nham hiểm, thị lại có chút chữ nghĩa và khoác áo trí thức. Nhưng thực ra chỉ có đạo đức giả nên đã hãm hại vu cáo xuyên tạc khá nhiều dân oan dũng cảm dám đứng lên vạch trần bộ mặt thật của thị ra ánh sáng. Vậy nên tôi kính mong bà con cô bác anh chị em vốn theo dõi sát tình hình quốc nội nên nêu cao cảnh giác để khỏi mắc mưu gian của thị hoặc những kẻ tương tự. Cuối cùng xin trân trọng cám ơn các quý vị đã quan tâm đến bài viết tâm tình này của tôi và hẹn gặp lại.

Trong bài này tôi có đính kèm 4 bức hình minh họa chụp nhân ngày đòi được nhà - một phần tài sản bị cưỡng đoạt sau ngày 30/4/1975. Ảnh chụp ngày mùng 4 tết năm 2000 với nội dung lần lượt như sau :

1/ Chân dung tôi - Vũ Thanh Phương chụp ảnh mặc áo trắng, đội mũ trắng hưởng ứng ngày 1 và 15 hàng tháng vì tự do dân chủ cho nước nhà do khối 8406 kêu gọi.

2/ Cảnh em ruột tôi là Vũ Thiên Nga đón mừng bà con dân oan khiếu kiện cùng cảnh ngộ quanh vùng đến chia vui với gia đình sau khi được chính quyền địa phương minh oan buộc phải trả lại nhà - một phần tài sản của gia đình bị cưỡng đoạt sau ngày “ giải phóng 30/4/1975 ”.

3/ Cảnh trong nhà tôi ở xã Xuân Phú, huyện xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai chăng đầy biểu ngữ, khẩu hiệu đấu tranh được mang về từ Sàigòn. Những tấm biểu ngữ bằng vải này do tôi viết và đã căng nhiều ngày trước trụ sở tiếp dân của đảng và chánh phủ CSVN đặt tại số 7 đường Lê Duẩn TP Sài Gòn, chính vì vậy dẫn đến tôi và nhiều phụ nữ bị công an đàn áp đánh đập tàn nhẫn. Gia đình tôi đã căng các tấm biểu ngữ này cho đến khi mục nát mới bỏ đi, trong suốt mấy năm đó công an xã và huyện liên tục thuyết phục gia đình và tôi gỡ bỏ nhưng tôi kiên quyết từ chối.

4/ Cảnh chụp ảnh kỷ niệm với tất cả bà con dân khiếu kiện, cùng họ hàng thân quyến và hàng xóm láng giềng tụ họp chụp hình lưu niệm ngay sau bữa cơm liên hoan Mừng đòi được nhà sau hơn 25 năm. Trong ảnh là có 2 chị em là Lư Thị Thu Duyên ( mặc áo đỏ hàng đầu ) và Lư Thị Thu Trang ( mặc áo hoa đang quàng vai em ruột tôi Vũ Thiên Nga ở hàng đầu giữa ảnh ). Đây cũng chính là những nạn nhân cũng đã bị công an thành phố Sài Gòn đánh đập dã man đến đổ máu ngày 27/11/2000. Còn Tôi mặc bộ quần áo xanh tím ngồi bệt doãi chân ra, ở hàng đầu trong ảnh.

5/ Ảnh chụp cuốn sổ gửi tiền tiết kiệm mang tên bố tôi ông Vũ Văn Mạnh do Đại Nam Ngân Hàng chi nhánh tỉnh Long Khánh cấp dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ trước ngày 30/4/1975. Và ảnh chụp đơn viết tay ngày 09/04/1976 của bố tôi gưỉ lãnh đạo Ngân hàng Trung ương thời chế độ mới của nhà nước CSVN để xin được rút tiền ra sinh sống và chữa bệnh đau tim, nhưng không được họ chấp nhận. Đơn này có xác nhận của chánh quyền ấp 1 và xã Bùi Tiếng thành phố Biên Hòa.

Xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai ngày 25 – 4 - 2007
Vũ Thanh Phương

Địa chỉ: Số nhà 182-ấp Bình Xuân I – xã Xuân Phú –
huyện Xuân Lộc - tỉnh Đồng Nai.
Mail: kimnganvu2002@yahoo.com
Mobile: 0986 859 390

Mấy dòng viết thêm :
Khi tôi đặt bút viết xong bài báo này thì được tin dữ, là đúng ngày này chị Hồ Thị Bích Khương một người bạn tốt của dân oan chúng tôi mấy năm nay cùng tranh đấu tại “ trụ sở tiếp công dân của đảng, nhà nước và quốc hội nước CHXHCN VN ” tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng – Hà Nội đã bị công an huyện Nam Đàn Nghệ An bắt giữ. Anh chị em trong phong trào dân chủ và bà con dân oan đau đớn, phẫn nộ những kẻ dã tâm, ác đức đã gây nên cơ sự như vậy. Lẽ ra bài báo đã được phổ biến nhân ngày 30 /4/ 2007 cho thật có ý nghĩa. Nhưng tôi đã kiềm chế chưa muốn công bố bài viết nêu lên những suy tư thành tâm của mình vào đúng dịp đó. Nay tôi quyết định gửi những tâm tư hiền hòa chân thật này tới bạn bè tôi và những ai quan tâm. Cũng là thân tặng chị Hồ Bích Thị Bích Khương thân mến của chị em chúng tôi đang trong ngục tối của nhà cầm quyền CSVN huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tôi rất biết việc nói nên những suy nghĩ chân thành mộc mạc này của riêng mình là vô cùng nguy hiểm cho tính mạng mình. Nhưng điều đó tôi sẵn sàng chấp nhận và dám xả thân mình vì sự thật, bởi sự thật một cách thanh thản và đàng hoàng….

Hà Nội ngày 22 / 5 / 2007
Công dân Vũ Thanh Phương
Tạm trú tại nhà số 3 ngõ 94 phố Ngọc Hà, quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội

( V V V)

Trần Thị Hồng Sương: Phía sau ba tấm ảnh

Trần Thị Hồng Sương: Phía sau ba tấm ảnh
Gửi vào Thứ bảy, Ngày 26, Tháng 5

Phía sau ba tấm ảnh
Trần Thị Hồng Sương

Ngày 30.3.2007 bức hình Cha Lý được phát tán tràn ngập toàn thế giới. Có cả “hình bụm miệng” này in trên áo thun để trình làng một VN là “biểu tượng vi phạm nhân quyền” tệ hại nhất thế kỷ 21. Bức hình Mao Trạch Đông ở quảng trường Thiên An Môn thì vừa bị tấn công bằng bom, cháy nám nửa mặt. Đó là thông điệp dân Trung Quốc gửi vào nhân vật của quá khứ này lòng căm ghét, cho dù ông ta đã chết. VN cũng đang rất sính lăng mộ tượng đài một cách vô cùng tốn kém và làm nổi bật sự lạc hậu. Người miền Nam từng không chịu suy tôn Ngô Tổng Thống, bây giờ thấy tượng ông Nguyễn Tất Thành ngày càng lớn, lớn đến độ muốn quay phim chụp hình toàn cảnh thì chỉ thấy tượng ông Nguyễn Tất Thành chiếm ¾ ảnh còn Tổng thống Đức và ông Nguyễn Minh Triết thì... nhỏ xíu, loi nhoi ngồi phía dưới!

Quá khứ không “uy hiếp” nữa mà “bao trùm” hiện tại và sẽ “nhấn chìm” tương lai chăng ?

Có lẽ nhiều thư lại CSVN còn chưa biết câu Phật dạy, không cần có lăng mộ tượng đài chùa lớn mà thành chánh quả: “Kìa! đệ tử hãy nhìn theo ngón tay ta mà thấy mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng!” Phật không cho tu sĩ chỉ biết vái lạy mình mà phải biết suy nghiệm lời Phật dạy. Tu mà phải đến ở chùa là... cách tu dễ theo trình tự, thứ nhất tu tại gia, thứ nhì tại chợ, thứ ba tại chùa! Dù xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người! Tư duy VN nhân bản lắm mà!

Thật sự tôi không quá tin vào hình ảnh vì thấy sự lầm lạc quá độ của thanh niên thiếu nữ trở thành fan “cuồng mộ” các tài tử hay dân Hà Nội đọc truyện thần tiên xem tivi ca ngợi về ông Nguyễn Tất Thành đã ngây thơ yêu kính, thần tượng hoá, một người... rất ảo, thành cuồng tín, bỏ mạng vì lý tưởng cao cả không hề có trong thực tế... Với ông Nguyễn Tất Thành có thể trích một đoạn lời phán xét Yeltsin dành cho ông: “Ông dính dáng đến nhiều sự kiện trọng đại nhất của quốc gia, gây những lỗi lầm to lớn nhất!”.

Không thể không đặt ra câu hỏi về sự kiện: Ông Nguyễn Tất Thành ngưỡng mộ Mỹ, nhưng với Mỹ ông Nguyễn Tất Thành không được đánh giá cao, tham vọng lãnh tụ tất yếu khó thành trước lợi thế của ông Bảo Đại, ông Diệm trong cách nhìn của phe đồng minh. Nhiệm vụ Cộng Sản quốc tế giao sẽ không thành và người ăn lương tình báo Liên Xô này có phải sẽ “khó sống” với tình báo Nga nếu theo Mỹ không ? Ông đã quyết theo Liên Xô để tồn tại và may ra được làm lãnh tụ ! Khi được Lãnh tụ liên Xô tiếp kiến, giao nhiệm vụ, anh đầu bếp, người lao động cào tuyết nghèo thất chí như ông sao khỏi hình thành óc “đồng bóng vỹ cuồng”! Ông cứ thế lao ra khỏi lòng dân tộc như “ông đồng bà bóng” nông thôn, bỏ đời sống bình thường để sống trong hoang tưởng với thần thánh “cõi trên“ ! Ông Nguyễn tất Thành đã tự hào công nhận sau trận Ðiện Biên Phủ: “Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ”.

Thật ngạc nhiên vì sao không ai gán tội vọng ngoại tay sai nước ngoài cho Ông và Tố Hữu? Không có chứng tích nào là sáng suốt cao cả thì tôi lấy gì để yêu kính? Không có độc lập tinh thần tư tưởng mà là cái bóng của Liên Xô Trung Quốc thì lấy gì để tin? Nhìn lại thì ông gây toàn thất bại, đem đến toàn tai họa cho đất nước.

Ông Nguyễn Tất Thành là người khá vô cảm nhẫn tâm, ác một cách “vô tư”, như các giáo sĩ Hồi giáo, giết người rất dễ và an nhiên vì tưởng rằng đó là điều cần thiết là hữu ích. Cá nhân ông không phải là người xấu hiểu theo nghĩa “tham vặt, chơi hoang” ham xa hoa hay lười nhác, nên ông có các thành công giúp ông nuôi dưỡng sai lầm. Có phải vì tham vọng làm “người hùng, lãnh tụ” quá lớn và quá đáng ao ước so với tài sức ông, hình thành ham muốn duy nhất mà ông gắn vào ham muốn độc lập cho đất nước là yêu nước! Thực tế chứng minh ngược lại ông không biết yêu bất kỳ thứ gì mà không có ông là hàng đầu là lãnh tụ ở đó ! Ông bỏ hết đời mình, bỏ người vợ cưới hỏi Tăng Tuyết Minh làm vừa lòng một nhóm người trong đảng CS xét nét ông. Ông cố gắng làm người khó thể thiếu, đứng giữa những con người CS hung hăng, gây hấn mâu thuẩn dữ dội với nhau. Ông thăm dân, đóng kịch, lấy lòng.

Tính ác của con người bị kềm chế trong Phật giáo bỗng chốc được giải phóng trong bạo lực chiến tranh và cộng thêm triết lý “bạo lực cách mạng” “vô thần“ đã nâng “sát nhân khủng bố” lên hàng “sứ mệnh” làm biện pháp hữu hiệu để lãnh đạo. Giáo sĩ Hồi giáo hứa hẹn một thiên đường và bảy trinh nữ làm vợ, thưởng công cho kẻ nghe theo lệnh giáo sĩ sát nhân khủng bố thành sứ mệnh thiêng liêng bảo vệ thánh Alah. Ông Nguyễn Tất Thành được Mao công nhận lãnh tụ và trung thành với Mao hết mực. Ông hứa hẹn chức Bí thư Đảng cho Lê Duẩn, cho Trường Chinh, Tố Hữu như Mao dành nhà nước cho Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình vì cách cam chịu nhục trước Mao!

Ông Nguyễn Tất Thành không khó hiểu mà khó hiểu nhất là những người “không điên” không bất tài sao lại “cuồng tín” chánh trị hay vì sợ hãi cộng với tham vọng làm tiêu tan phẩm giá con người ? Sao lại có cuộc đời như Tố Hữu ? Tôi đoan chắc 100% chưa đứa trẻ nào có ý thức chánh trị để mơ được gặp lãnh tụ chánh trị, vậy mà nghệ sĩ CS viết cho được bài ca: “Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ !”, giống như ru ngủ trẻ con “chăn trâu sướng lắm chứ” hay “gắng sức người sỏi đá cũng thành cơm” chỉ là ẩn dụ để ru ngủ cam phận tạo... hy vọng! Nếu không biết, cứ tin yêu, cứ làm theo đi, thử coi dốt và chết đói hay khôn và có cơm ăn!

Tivi VN cho đến nay vẫn còn tràn ngập hình ảnh Ông Nguyễn Tất Thành đóng phim bế cháu bé, đạp nước vào ruộng với nông dân, chống gậy Trường sơn đi hành quân. Thực tế ông Nguyễn Tất Thành lo nghĩ gì, có yêu trẻ hay không thì chỉ có... trời biết. Ông có chạy trốn Pháp rút vào lán trại miền sơn cước Việt Bắc nhưng chưa một ngày làm nông dân... ai cũng biết. Nhìn đoạn phim “ông Hồ cuốc đất” xung quanh quan chức và các nàng sơn cước xinh xắn xếp hàng đứng nhìn... cười, tôi nghĩ dân vận và truyền hình VN ta trình độ thấp thật chứ chẳng không!

Dân VN nói “có thờ có thiêng, có kiêng có lành” cứ thờ riết tượng đất sét hoá thành thiêng. Dưới màn sương của đêm trăng lạnh “sỏi đá hoá ngọc ngà” hay ở một góc nhìn phản chiếu dưới ánh nắng, mảnh chai bể cũng lấp lánh chói loà chẳng kém kim cương.

Cô Thùy Trâm nhìn hình Ông nghe lời tuyên truyền mà tự yêu tự tin vào đó, cô dấn thân vào con đường tự hủy diệt đầy lời ca ngợi lời mời gọi để khi đối mặt với hiểm nguy chỉ còn biết thảng thốt gọi một ảo ảnh chỉ có trong trí tưởng tượng như con người khổ... kêu trời! Tín đồ Thùy Trâm lãnh viên đạn găm vào giữa trán, chết trong cảnh bơ vơ cùng tiếng kêu tuyệt vọng:

“Bây giờ trời nước mênh mông,
Bác ơi có thấu tấm lòng trẻ thơ!”

Dù chưa hoàn toàn tán thành cách huyền thoại hoá như thế nhưng tạm lấy câu viết của báo Hà Nội Mới năm 2004 viết về nhân vật truyện phim của Phan Vũ được biến thành anh hùng lịch sử Lê Văn Tám làm kết luận, khi nhìn lại quá nhiều huyền thoại về Ông Nguyễn Tất Thành: “Thời chiến, có thể dùng mọi biện pháp, miễn hữu ích. Nay cũng cần trả lại sự thật cho các các sự kiện lịch sử”.

Hình ảnh có tác dụng lớn nói lên sự thật và cũng dàn dựng sự dối trá cho nên dù nhìn hình Cha Lý bị bịt miệng thấy thất vọng đến sững sờ, bức xúc đến độ chỉ biết... im lặng, lắc đầu... Tôi phải suy nghĩ lâu mới nói về bức ảnh đó.

Lý tưởng như mũi tên đến đích, điều xấu như viên đá cũng leo đến cực điểm rồi mới chịu chúi đầu rơi xuống. Cần phải suy xét về bức ảnh bịt miệng Cha Lý sao cho vừa đúng thực trạng, bộc lộ được thủ phạm và nguyên nhân.

Nhìn lại lịch sử qua ba tấm ảnh

Ba tấm hình về chánh trị rất đáng được so sánh theo trình tự thời gian hiện nay là:

1- Bức ảnh của nhà nhiếp ảnh Mỹ Eddie Adams ghi cảnh Tướng Loan xử bắn một đặc công Việt Cộng, bối cảnh là giữa đường phố Sài gòn nhưng không gợi cho thấy đang trong cuộc hành quân tái chiếm, Tết Mậu Thân 1968.

2- Bức ảnh thứ hai là ảnh người thanh niên Trung Quốc đứng cản đường đoàn xe tăng 4 chiếc đang tiến vào quảng trường Thiên An Môn, tháng Sáu năm 1989.

3- Bức ảnh thứ ba ngày 30.4.2007 là ảnh an ninh chìm CSVN tên Nguyễn Minh Tân, PA 24 Sở công an tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế, mặc thường phục dùng hai bàn tay bịt miệng và cánh tay gân guốc ghì đầu Linh mục Nguyễn văn Lý đang ngồi trước vành móng ngựa vào bụng mình, hai tay cha Lý đã bị còng càn có hai Công an CSVN mặc cảnh phục canh giữ, bối cảnh rõ là giữa một phiên tòa.

1/ Tấm hình Tướng Loan bắn đặc công VC



Chuyện tướng Loan đã được đánh giá lại đúng và có thể để cho nó chìm vào quá khứ cuộc nội chiến không đáng có của miền Bắc tiến công vào Nam. Nhưng do mới tháng 4.2007, nó được hâm nóng, đưa vào quyển sách "Không thể chuộc lỗi", dịch lại quyển "Failure to Atone, the true story of a jungle surgeon in Vietnam" của Bác sĩ Allen Hassan. Tác giả có cha người Palestine Hồi giáo, mẹ Mỹ gốc di dân. Bà mẹ đã tự tử sau khi sinh ra ông, khi bà mới ở độ tuổi hai mươi. Ông Allen Hassan không nói nhưng có thể đoán là vì mâu thuẩn với người chồng Hồi giáo khắt khe. Cần phải cung cấp thông tin đầy đủ về tác giả như thế cho độc giả quyền sách Không thể chuộc lỗi về bức ảnh tướng Loan có trong tập sách đó.

Bộ chỉ huy chiến tranh không bao giờ có thể chỉ huy được hành vi từng người lính khi họ phải tự tìm cách sinh tồn và tự do ứng xử. Hành vi tranh sống, phẫn hận bộc phát giữa cuộc hành quân, là nguyên do khiến cho chiến tranh luôn có gương mặt tàn nhẫn có khi ngoài cả ý muốn của kẻ gây chiến.

Không có bóng dáng phóng viên ở Huế khi chiến sự đang ác liệt. Khi CS bị đánh bật khỏi Huế năm 1968. Bộ đội Bắc Việt không thể mang theo tù binh cũng không thả người chưa được xét xử mà gây ra thảm sát cho ít nhất là 2.800 người. Những oan hồn này không bị CS nghi giết người, đa số chỉ là công chức hành chánh dân sự của Huế cho nên mức ghê rợn không phải gấp 2.800 lần mà là triệu triệu lần! Đây là sự thật gây ra tiên lượng sẽ có tắm máu sau 1975!

Báo Tuổi trẻ ngày Thứ Ba, 21/09/2004, trong bài viết vĩnh biệt nhà nhiếp ảnh Eddie Adams xác nhận Tướng Loan đang hành quân giữa bãi chiến trường còn tiếng đạn réo, như sau: “Hôm đó ngày 1-2-1968, Sài Gòn rung chuyển bởi cuộc tổng tấn công Mậu Thân. Giữa tiếng đạn ríu rít, Adams cùng nhóm quay phim NBS trông thấy binh lính ngụy áp giải một chiến sĩ biệt động bị còng tay sau lưng. Người chiến sĩ biệt động được đưa đến một góc phố ở khu vực Chợ Lớn, tưởng như để tiến hành tra vấn.” Tướng Loan được báo cáo liên tục tin tức làm ông xúc động bàng hoàng. Trước đó có tin CS Bắc Việt giết toàn gia tám người của một sĩ quan để lấy mật mã xe tăng kể cả bà mẹ già một cách vô cùng thảm khốc tàn nhẫn. Ngay ngày hành quân truy quét thì, theo phóng viên Neil Brian Davis (Úc) tường thuật lại, tướng Loan vừa nhận được tin VC bắn chết toàn gia một sỉ quan cảnh sát, trong đó có hai đứa con đỡ đầu của Tướng Loan.

Đặc công tên tuổi nay còn chưa khẳng định là Bảy Lốp Nguyễn Văn Lém hay Nguyễn Công Nà này bị bắt gần khu vực gia đình sĩ quan cảnh sát bị sát hại toàn gia giữa lúc đang thay chiếc áo đẫm máu, mặc vào chiếc áo sọc. Tất cả thông tin đó đã khiến Tướng Loan không kềm chế đã bắn chết vì khả năng chính người này có liên can đến thảm sát rất cao, giữa lúc Tướng Loan còn phải tiếp tục hành quân truy lùng với toán quân nhân trong ảnh. Tướng Loan bị thương gãy chân trong một cuộc hành quân và được đưa sang Úc chữa trị.

Tác giả không theo sau quân Bắc việt và không có các bức ảnh thảm sát khi rút lui của Bộ đội Bắc Việt lúc sát hại thường dân, công chức, dân sự, gia đình sĩ quan ở Huế... Báo chí theo sau lưng cũng cần phải tránh hứng thú trở thành kẻ “đâm sau lưng chiến sĩ” như thế này. Việc nhà báo theo dõi nhắc nhở ngăn cản là cần thiết, nhưng chắc chắn cũng từng êm ái mắc mưu ông Phạm Xuân Ẩn, bi kịch hoá các bức ảnh về tướng Loan.

Cuộc chiến du kích không chiến trường của VC bám chặt vào dân mà dân chúng Mỹ không hề biết rõ nét đặc thù này. Dân nước Mỹ muốn cuộc chiến tranh mang tính chánh nghĩa chứ không mang óc trả thù như chuyện thảm sát Mỹ Lai. Phạm nhân phải được đưa ra toà kết tội dù có thể cũng bị tử hình sau đó. Điều này rất đúng và ...khó thể tuân theo giữa cuộc chiến tranh. Dân Mỹ không sai, nhưng soi tìm lý tưởng qua từng vụ việc giữa đạn lửa chiến tranh là hoang đường. Phải chống biện pháp chiến tranh. Người lính ra chiến trường nói họ chỉ cần biết phải giết ai để thắng và bảo toàn sự sống đảm bảo an toàn cho đồng đội. Bao nhiêu đó đã là quá khó! Họ không có thì giờ suy xét cân đong đo đếm một tình huống phức tạp. Trong chiến tranh VN, CSVN bám chặt vào dân, lấy dân làm lá chắn và cả cơm áo gạo tiền để sống nên gây ra các bi kịch đau lòng.

Luật cấm giết tù binh trên đường hành quân, phải được xét xử ở toà án theo công ước quốc tế về tù binh nhằm giảm nhẹ tính tàn bạo của chiến tranh, dù hiệu quả thật sự không bao nhiêu. Người lính trẻ cả hai bên bị động viên làm nghĩa vụ quân sự thừa hành và khó biết hết đúng sai về cuộc chiến. Có khi biết cũng không thể làm khác vì chánh quyền hiếu chiến hay độc tài chủ chiến như Pháp Ý Đức Nhật và Bắc VN. Chánh phủ có trăm phương ngàn kế để áp bức thúc đẩy dân và chỉ cho biết vừa đủ để còn mang thừa ngộ nhận cần thiết, lao vào chiến tranh, phá hoại, giết người. Nước Pháp ghét Mỹ vì Mỹ chống chanh sách đô hộ nhưng hướng dân Pháp chệch đi chê văn hoá Mỹ tự hào dân tộc Pháp ...! Chống Mỹ gây chiến tranh Iraq, nhưng thật ra do Pháp là chủ nợ phải nuôi con nợ Iraq để thu hồi tiền cho vay!

Đặc công là người tình nguyện, chủ động, giả dạng dân, làm nhiệm vụ “sát thủ” khủng bố, cho nên thân phận không phải là người lính mà là khủng bố nguy hiểm hơn gắp bội. Thời 1968 chưa có khái niệm rõ về khủng bố, đặc công sống len lỏi trong dân đe dọa trả thù người dân nào dám tố giác. Chiến lược nào đáp trả khi VC bám chặt vào dân, lấy dân nuôi mình sống và làm bia đở đạn? Lãnh đạo cuộc chiến thì rút xa tận bên kia biên giới Campuchia trong rừng sâu và ngoài Bắc.

Bức hình Tướng Loan làm các phóng viên nhà chánh trị khó tánh nước ngoài sửng sốt và bỏ ăn sáng, nhưng không gây nhiều cảm xúc ở người VN đến vậy! Dân VN sống trong khó khổ và từng ở trong cảnh theo bên nào cũng chết, không theo bên nào cũng chết! Dân VN bị CSVN bám chặt trên đường chạy loạn nên cũng bị đạn pháo từ máy bay Mỹ! Dân VN là những người đang nhận chịu các thương vong từ không phải hai mà là ba phía. 1968 dân thường chết nhiều do pháo kích vào thành phố, do bị VC thảm sát và cả do bom đạn Mỹ.

Trong vấn đề ông Loan người VN không tán thành nhưng không gán cho bức ảnh nhiều ý nghĩa tàn bạo. Sàigòn biết đó chính là số phận nghiệt ngã của một người lính muốn không còn phải chấm dứt chiến tranh. Do chiến dịch pháo kích vào thành phố dày đặc dân cư, Sài gòn 1968 tỉnh ngộ rằng CS sẽ chẳng từ chuyện giết dân chứ không giống như dân Sài gòn từng chống việc Mỹ dội bom miền Bắc. Lời tuyên bố sẽ dội bom nát Sài gòn, không có hiệp định Paris gì hết.

Tướng Loan sau khi chữa trị thương bị bắn gãy chân trong chiến dịch ở Úc về VN bị ra toà án binh, bị loại khỏi quân đội và VNCH mất hậu thuẫn vì quần chúng Mỹ quá nhạy cảm. Cuộc tham chiến của Mỹ ở VN là một đáp trả thụ động và gặp khó khăn khi dân chúng VNCH nghĩ đến thương lượng nhiều hơn.

Tấm hình Tướng Loan đã bị suy diễn quá xa khiến gây tức giận nhiều hơn mức cần thiết. Bức ảnh không nói lên được bối cảnh là giữa cuộc hành quân truy quét các khu vực bị lực lượng Bắc Việt lấn chiếm chứ không phải giữa một Sàigòn yên bình. Nơi nào bị chiếm đóng trong Tết Mậu Thân cũng có cảnh thảm sát gia đình sĩ quan VNCH. Người chết nhiều nhưng thương thay... không còn có tiếng nói.

Chuyện tướng Loan đã được giải quyết thoả đáng, nhất là sau khi được chính nhà nhiếp ảnh xin lỗi và đăng trên báo chí ở công luận Mỹ anh và các nước. Chủ nhân bức ảnh sau đó đã rất ân hận xin lỗi gia đình Tướng Loan về ảnh hưởng quá lớn của bức ảnh lên cuộc sống tướng Loan. Eddie Adams viết trong tạp chí Time: “Viên tướng Loan giết người Việt Cộng, còn tôi giết tướng Loan bằng máy ảnh của tôi. (The general killed the Viet Cong; I killed the general with my camera)”

Ông loại bức ảnh “sự thật một nửa” từng gây ngộ nhận tai hại này khỏi bộ sưu tập 500 bức ảnh của ông dù nó từng đoạt giải và công nhận bức ảnh đã không nói lên hết được sự thật. Ông nói “Hình ảnh chỉ là một nửa sự thật.” (They are only half-truths). Và khi phối kiểm tình tiết khẩn trương của một ngày nóng bỏng ông Adams hỏi nếu bạn là tướng lãnh trách nhiệm trước thương vong thảm sát của đồng đội: "Làm sao bạn biết được nếu chính là bạn, bạn sẽ không bóp cò!” (How do you know you wouldn't have pulled the trigger yourself?" ) .

Ngày 14 tháng 7 năm 1998 tướng Nguyễn Ngọc Loan từ trần. Nhà nhiếp ảnh Eddie Adams đã gửi lời viếng và bày tỏ sự ân hận vì những tác động của bức ảnh lên cuộc sống của tướng Loan: "Người này là một anh hùng. Nước Mỹ đáng lẽ phải tiếc thương ông ta. Tôi rất tiếc là đã để cho ông ta ra đi như thế này, trong khi người ta không hề biết một chút gì về ông ta cả." ("The guy was a hero. America should be crying. I just hate to see him go this way, without people knowing anything about him.")

Về phía phóng viên tạo ảnh hưởng trên dư luận, chỉ đứng bên lề cuộc chiến, đứng ở một phía, lại là phía sau nhưng lại muốn biến công việc thành trọng tâm và dùng đánh giá toàn diện cuộc chiến! Sự thật không thể nắm bắt một cách đơn giản dễ dàng như thế. Nhà nhiếp ảnh Eddie Adams đã nhận giải thưởng Pulitzer về bức ảnh, nhưng phóng viên truyền hình Neil Brian Davis (Úc) dành cho ông Loan sự đồng cảm và có cái nhìn bao quát hơn, đúng đắn hơn. Nước Mỹ là con cọp thật nhưng CSVN nhanh chóng thấy ra những người nhạy cảm như Adams là các con cọp giấy có thể tận dụng để phá hoại!

Dù sao, sau đó nhà nhiếp ảnh Eddie Adams này cũng thấy ra thiếu sót và thấy ra cần phải có hoạt động bổ sung sửa chửa sai lầm cần đem lại tác dụng để các bức ảnh không chỉ tạo ra cảm xúc yêu ghét thiên lệch mà còn phải có tác dụng góp phần thay đổi. Hậu quả một phần bức ảnh Eddie Adams mang lại là những chuyến hải hành liều chết của đàn bà trẻ con. Ông quyết định tiếp tục chụp ảnh cuộc chạy trốn hậu chiến sau 1975.

Sau 1975 Eddie Adams tuy vẫn còn nghĩ rằng người ta có thể viết rất hay nhưng ảnh là điều tuyệt diệu hơn. Đề tài ông muốn làm tiếp theo là về thuyền nhân Việt Nam. Ông cũng muốn bức ảnh có đời sống và hành trình tác dụng thay đổi thế giới chứ không dừng lại chổ tạo ra cảm xúc mà thôi. Ông cũng rút kinh nghiệm nên những bức ảnh sau này đều có kèm theo bài viết của các tác giả khác.

Khi Eddie Adams chọn đề tài thuyền nhân ông đã liên lạc mọi nơi nhưng không nơi nào có thông tin, vì không nước nào cho phép tàu của thuyền nhân cặp bến. Họ trôi giạt và sống chết ra sao giử trời nước mênh mông không chổ dung thân không nước nào của thế giới văn minh nhanh chóng cứu giúp. Ông thương lượng để cùng đi tuần tra và được đội tuần duyên Thái Lan chấp thuận, vừa lúc có một thuyền cặp bến Thái Lan và tuần duyên Thái Lan đang sẵn sàng để tống khứ đẩy tàu và thuyền nhân ra khỏi lảnh hải và lãnh thổ Thái Lan. Vào ngày lễ Thankgiving 1976, ông kể trong một bài phỏng vấn: “Tôi đột ngột hỏi một người Việt Nam tôi có thể cùng đi với họ không - Tôi mua nhiên liệu và gạo. Các thuyền nhân đã không còn nhiên liệu để có thức ăn cho 49 người kể cả trẻ con trên chiếc thuyền đánh cá dài 30 thước. Ngay ngày đó một bé sơ sinh ra đời. Người Thái đẩy thuyền ra khỏi hải phận trôi đi vô định hướng. Trong khoang thuyền không có chổ nằm phải ngủ ngồi và không thể nào tả nổi hết sự thất vọng. Các bà mẹ với đứa con nửa sống nửa chết trong tay. Tôi chợt nhận ra sự thể tồi tệ nhất. Ngay trong trại tạm cư của di dân hay thời chiến, chết chóc bệnh tật khủng khiếp, khi bạn đến làm phóng sự vẫn có trẻ con tụ tập trước ống kính và cười. Nhưng nơi đây lần đầu tiên trong đời tôi không thấy trẻ con cười. Tôi gọi các bức hình là “Chiếc thuyền không có nụ cười”(I called the pictures, "the boat of no smiles.")

Một tàu Thái khác đến gần và tuần cảnh Thái dùng loa và súng yêu cầu tôi tách ra. Họ sợ người khác cho tàu cặp bờ khi thấy có người Mỹ trên tàu. Tôi có cảm giác lẫn lộn khi được tách ra. Tôi viết bài và gửi hình, cùng lúc đó có bài của Peter Gregg Arnett một ký giả người Mỹ gốc New Zealand (New Zealand-American journalist) và vài người khác. Trong vài ngày chánh quyền Tổng thống Jimmy Carter yêu cầu trình bày vấn đề trước quốc Hội và đi đến kết quả là hơn 200 ngàn người được vào nước Mỹ định cư.

Peter Gregg Arnett cũng từng được giải Pulitzer viết trong chiến tranh VN nhưng trong chiến tranh Iraq ông bị 34 nghị viên quốc hội Mỹ kết tội là ký giả không yêu nước. Toà bạch ốc kết tội lợi dụng chiến tranh Iraq cung cấp thông tin sai cho CNN. Tháng 3.1997 ông là người có thể phỏng vấn Osama Bin Laden. Vài tuần sau khi chiến tranh Iraq bắt đầu ông là ký giả duy nhất có thể cho khán giả thấy chiến tranh nhìn từ phía Iraq. Có 40 ký giả ở Iraq nhưng đều phải rời khỏi Iraq.

Ông viết bài về việc Mỹ dội bom một cơ sở sản xuất sữa ở Iraq gây ra tranh luận. Giới chức quân sự Mỹ cho là cơ sở trá hình để sản xuất vũ khí sinh học. Chắc chắn quân đội Mỹ không dội bom cơ sở sản xuất sữa nhưng theo ông không có gì chắc là tin tình báo hoàn toàn đúng. Về phía quân sự sản xuất bom sinh học thì vô cùng nguy hiểm đáng là mục tiêu triệt hạ. Cuộc điều tra được mở ra, Michel Wery, người Pháp, người tham gia xây dựng cơ sở cho biết trong một cuộc phỏng vấn. Cơ sở sản xuất sữa bắt đầu năm 1979. Cơ sở đóng cửa năm 1980 khi nhà kỷ thuật Pháp cuối cùng rời Baghdad. Không một ai ở cơ sở Wery trở qua từ đó. Wery cho biết cơ sở được sản xuất lại nhưng ông không chắc có thể vận hành sau 10 năm ngưng.

Tháng năm 1990 có hai kỹ thuật viên sang thăm nhà máy và điều gây nghi ngờ là đồng phục nhân viên mặc toàn bộ còn y nguyên do Pháp cung cấp hơn mười năm trước đó. Bộ đồng phục không thể còn sử dụng tốt sau mười năm nếu nhà máy có hoạt động sản xuất sữa. Tháng tám 1990 Richard Roth ghi lại hình ảnh nhân viên ăn mặc toàn đồ mới may ghi dòng chử tiếng Anh “Cơ sở sản xuất sữa" (Iraq Baby Milk Plant). Người Iraq nói họ nhận sữa nguyên liệu từ hảng Nestlé, nhưng hãng này cho biết tin đó sai vì chưa hề cung cấp sữa cho nhà máy. Sau điều tra nội bộ Arnett bị truyền hình CNN sa thải. Năm 2003 ông còn bị cáo buộc đã xuất hiện trên truyền hình do nhà nước kiểm soát của Iraq và đưa ra chánh kiến cá nhân nhất là trong thời chiến.

Arnett cho là ông đã có quyết định sai lầm khi xuất hiện 15 phút trong một cuộc phỏng vấn trên truyền hình Iraq mà không có sự chuẩn bị trước. Ông chỉ đã nói những điều về chiến tranh ai cũng biết và nói đến có sự trì trệ bổ sung chánh sách, có nhiều điều gây ngạc nhiên. ("My stupid misjudgment was to spend fifteen minutes in an impromptu interview with Iraqi television. I said in that interview essentially what we all know about the war, that there have been delays in implementing policy, there have been surprises"). Ông được một tờ báo nhỏ chống chiến tranh là tờ Daily Mirror thuê và bị NBC đả kích. Ông viết rằng: "Tôi có cảm giác bối rối thất vọng khi bị đả kích."

Dư luận xôn xao khi Thầy Thích Nhất Hạnh lập lại câu nói của Arnette là Mỹ phá hủy thành phố Bến Tre. Trong chiến tranh VN chính là Arnett cũng từng tường trình chỉ trích khi một quân nhân Mỹ trả lời câu ông hỏi vì sao phải dùng vũ khí quá nhiều ở một ngôi làng nhỏ. Arnette được trả lời: “Chúng tôi phải phá hủy làng mạc để cứu nó”. Arnette không hài lòng việc Mỹ dùng bom đạn. (Arnett quoting a U.S. army officer in Vietnam, when asked about the background for the use of much heavy artillery against a small village. "We had to destroy the village in order to save it.")

“Tình hình đã khiến cần phải phá phá hủy làng để cứu nó”. Đó là phát biểu của giới chức quân sự nói sau khi dội bom phá hủy nhà cửa ở Bến Tre bị VC cố thủ tết Mậu Thân. (It became necessary to destroy the village in order to save it. An American major after the destruction of the Vietnamese Village BenTre)

Còn ngày 16.3.1968 một nhóm quân nhân Mỹ đến làng Mỹ Lai 4 ở Việt Nam. Một quân nhân chứng kiến sau đó xác nhận “Lệnh đưa ra là giết và phá hủy tất cả những gì có trong làng. Điều này được giải thích rõ ràng là không có tù nhân”. (On March 16, 1968 a company of U.S soldier went into the village of Mỹ Lai 4, in Vietnam. A soldier later testified,” The order we were given was to kill and destroy everything that was in the village. It was clearly explained that there were to be no prisonners)

Khi dội bom miền Bắc cũng với ý đồ phá hủy mọi thứ, trong câu nói khó cho người VN hay thế giới văn minh chấp nhận: “Bỏ bom cho chúng trở về thời đồ đá!" (Bomb them back to stone age)

Tất cả cho thấy chiến tranh luôn tạo ra thảm kịch đau lòng. Ai cũng muốn giết nhau thật nhiều để chiến thắng. Lính Mỹ phải chiến đấu nơi mà việc phân biệt bạn thù là không thể làm được nên giết hết . Phía Bắc Việt lợi dụng tối đa việc đeo bám dân để làm lá chắn và có lương thực vì lính Bắc Việt chỉ được cấp vũ khí mà không được cấp quân lương. Chỉ tìm thấy ba khẩu súng không có ổ kháng cự ở Mỹ Lai. Nhưng ba khẩu súng tìm được là đủ chứng cứ dân làng đã phải im lặng chịu đựng sự xăm nhập đeo bám của du kích chứ chưa phải dân làng là VC. Thảm sát dân chúng rất đáng tội nghiệp. Dân chúng không chống lại nổi bên nào trong vùng xôi đậu cả!

Cuộc chiến quân sự của quân Mỹ là chống Cộng Sản, nhưng với người VN nông thôn ít học, trước mắt chỉ có một đội quân cái bang người VN du kích và Bắc Việt đói cơm khát tình, sống chui lủi tội nghiệp, một bên dù sao cũng không phải là VN, không biết rõ vì sao lại ở xứ VN mình làm chi, sao hết Pháp lại Mỹ! Bi kịch này khiến chỉ có thể nghĩ chiến tranh không bằng đàm phán.

Dân miền Nam bị dụ vào bi kịch, không hoan nghênh CS nhưng cũng không chịu tin rằng cần phải giết những người VC này để có tự do dân chủ phát triễn giàu mạnh. Tại sao người VN không thể nhường cơm sẻ áo cùng sống an lành với nhau? Chắc chắc không ai tin rằng những người VC này mang đến cuộc sống tốt hơn khi cuộc sống của chính họ quá đói nghèo. Họ chủ động lao vào cuộc chiến tranh và chính họ nhận lấy chết chóc nhiều hơn gắp bội. Chánh phủ CHMNVN chẳng lẽ không biết gì về miền Bắc về CCRĐ về Nhân văn giai phẩm về việc miền Nam chỉ đàm phán với lực lượng VN không CS? Vì sao đã không giữ lời hứa với dân miền Nam?

Người dân Nam VN với óc nhân bản và tình dân tộc đã không vì bất cứ lý do gì đem nộp người CSVN cho Mỹ hay cả cho chánh quyền Nam VN trừ vài trường hợp hạ sát thân nhân mình như trường hợp Tướng Loan. Người Mỹ và VNCH khó lòng thuyết phục người dân VN tin rằng cần giết nhau mới có thể có tự do dân chủ phát triển. Cuộc chiến tranh rất cần phải kết thúc trong thương lượng hoà bình. Kể cả các nhà sư và các ông Cha Thiên Chúa, Tin lành cũng từng coi bộ đội miền Bắc là tình anh em không thể giết nhau. Nói một chút về quá khứ chiến tranh trong Nam để nhắc CSVN miền Bắc nhớ lại, đừng cắt đoạn lịch sử, kích hoạt cựu chiến binh rơi vào tâm trạng điên loạn chống đối xúc phạm các người hoạt động vận động dân chủ như cụ Hoàng Minh Chính.

Người CS được dạy không có tình dân tộc trong tâm thức qua tuyên truyền chỉ còn có “nỗi sợ và nỗi ghét” dân chúng miền Nam Mỹ Ngụy đáng giết chết. Điều CSVN không ngờ là khi miền Bắc tiếp cận miền Nam biết ra sự thật thì hầu hết dân chúng không còn căm thù ”Mỹ Ngụy“. Tuy chỉ có nhà văn Dương Thu Hương dám nói ra, viết ra điều đó nhưng hầu hết ai từng biết đều dù không nói ra cũng đều nghĩ như thế! Hiện bây giờ, chính các nhà đấu tranh dân chủ miền Bắc tích cực đi tìm tự do nhất.

Biết rõ lầm lạc và thế giới CS rất bạo lực, cho nên chánh phủ Mỹ từng tin rằng phải đánh đuổi CS Bắc Việt qua bên kia vĩ tuyến mới phát triễn được Nam VN. Người dân miền Nam chỉ hiểu và tin điều này sau 1975 khi sống dưới chế độ Cộng Sản và khi so sánh Nam VN ngày nay với Nam Hàn, Singapore để hối tiếc ! Cho nên nay mới có phong trào đòi dân chủ nhân quyền nhọc nhằn gian khổ giữa người Việt hai miền với Đảng CSVN!

CS Hà Nội quen coi thường dân chúng và từng tung nhiều tin ra báo chí nước ngoài để chính báo chí nước ngoài “phản chiến” lập lại. Một thí dụ cụ thể là việc tung tin Sàigòn có 500 ngàn gái điếm, báo Úc đăng lại tin này không cần suy nghĩ! Một học giả miền Nam ngồi tính từ bản thống kê dân số và gửi phản hồi cho báo Úc như sau: Sàigòn lúc đó có 3 triệu dân, 1,5 triệu vị thành niên, 300 ngàn trên 60 tuổi. Còn lại 1,2 triệu thì 50% là đàn ông. Vậy tính ra gần như tất cả phụ nữ Sàigòn vào tuổi sinh đẻ đều là gái điếm! Tất cả cho thấy nguy hại của báo chí lá cải khai thác cảm xúc theo thiên kiến cá nhân! Phải có phản biện như thế mới không còn những thông tin tuyên truyền sai lạc.

2/ Bức ảnh Thiên An Môn



Bức hình một thanh niên tham gia biểu tình đứng chặn đầu xe tăng ngày mồng 4 tháng 6 năm 1989... Bức ảnh nổi tiếng này do Jeff Widener cho thấy một người biểu tình đơn độc, được cho là công dân Wang Wei-Lin ở Bắc Kinh, đứng chặn một đoàn xe tăng bốn chiếc trong hơn nửa giờ. Tạp chí Time của Mỹ đã bầu anh thanh niên đứng trước 4 xe tăng là một trong 100 anh hùng của thế kỷ 20. Người ta gọi anh là Unknown rebel. Một phóng viên Mỹ thuật lại: Anh này là một sinh viên vừa đi chợ về, tay còn xách làn, nhảy ra trước mũi xe tăng, mở nắp lên và hét vào trong xe câu gì đó - và sau đó đã bị giết. Tiếp đến 72 giờ nghẹt thở! Có từ 400 đến 800 dân thường thiệt mạng, và từ 7,000 đến 10,000 người bị thương. Sinh viên biểu tình vì chính phủ do Đảng Cộng sản lãnh đạo quá tham nhũng và hà khắc, tình trạng rất giống VN hiện nay. Đặng Tiểu Bình bị đảng CS Trung Quốc mất tín nhiệm sau vụ thảm sát này, sau đó phải rút lui và mất quyền lực.

Theo lời kể của một nhân chứng, một số giáo sư Trung Quốc tóc đã bạc cũng đi trong nhóm cầm biểu ngữ có câu: “Quỳ gối lâu rồi nay chúng ta phải duỗi chân cho thẳng”. Ý nghĩa đau đớn của thân phận trí thức trong nhãn quan chánh trị của phong kiến lẫn cộng sản trong biểu ngữ này. Phong kiến đốt sách chôn học trò và khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, trí thức luôn bị chỉ trích đã phá từ phong trào này, phong trào khác. Bị đối xử tàn tệ và trước họng súng phải chịu đựng trong im lặng. Nay, các giáo sư đại học muốn ngẩng cao đầu và dương cao khẩu hiệu. Ở Trung Quốc duy nhất ông Mao đứng, Chu Ân Lai chỉ được phép quỳ gối và vâng dạ. Đặng Tiểu Bình cũng từng là nạn nhân bị sỉ nhục. Vậy mà đến phiên mình, ông cũng lại ra tay đàn áp giết chết sinh viên. Điều này cho thấy vì sao, sau khi lôi cuốn dân chúng đấu tranh loại bỏ phong kiến và ngoại bang đô hộ chiếm đóng thì người CS lại thay chân đô hộ chính dân tộc họ chứ không biết xây dựng nổi nhà nước dân chủ.

Sau chuyến Mỹ viếng thăm năm 1972 có sự đồng ý ngầm để Mỹ dội bom Miền Bắc. Bắc Việt suy yếu là mục tiêu chung của Mỹ và Trung quốc. Chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979 ngăn ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á khi Liên Xô đang ủng hộ mạnh mẻ Bắc Việt. Trước khi cho quân tấn công Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đã thăm Mỹ và tâm đắc với ý tưởng chống Liên Xô của Zbigniew Brzezinski, cố vấn an ninh của tổng thống Jimmy Carter. Kết quả là Tổng thống Jimmy Carter quyết định công nhận Trung Quốc sau khi ngưng quan hệ ngoại giao chính thức cấp nhà nước với Đài Loan.

Hoa Kỳ và Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình cũng ủng hộ vị trí của Polpot tại Liên Hiệp Quốc lên án Việt Nam đưa quân sang Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng. Đặng Tiểu Bình tỏ ra căm ghét các nhà lãnh đạo Việt Nam khi ấy và muốn dạy cho Việt Nam một bài học. Suốt một thời gian dài sau đó, chính sách bao vây kinh tế và pháo kích biên giới của Đặng Tiểu Bình đã gây nhiều khó khăn cho Việt Nam. Vấp phải thiệt hại nặng của cuộc chiến biên giới 1979 khiến Trung Quốc thúc đẩy hiện đại hóa quân đội.

Cũng phải qua hai cuộc chiến, nước Mỹ mới bắt đầu coi VN là nước có độc lập, theo liên Xô và không chịu nằm dưới sự điều khiển của Trung Quốc như Trung quốc luôn muốn tỏ ra như thế và luôn cùng các cường quốc dàn xếp số phận VN bất chấp ý nguyện của VN. Ông Lê Duẫn nếu có thành công thì chính là trong cuộc chiến có toàn dân tham gia đánh Khmer đỏ ở Campuchia và cuộc chiến phía Bắc mà tính chất đúng là "chống Tàu cộng bành trướng cứu nước" CS Trung quốc chính danh là xâm lược Bắc Kinh.

Mỹ đã sai khi vì quyền lợi nước Mỹ cùng Trung Quốc ủng hộ chế độ diệt chủng Polpot bất chấp sự diệt chủng đang diễn ra trái ý nguyện dân chúng Campuchia và Việt Nam. Nước Mỹ đã tỏ ra khá thực dụng, chia xẻ quyền lợi giữa các siêu cường, khai thác mâu thuẩn Xô Trung. Mỹ thành nhà lãnh đạo có thể học hỏi nhưng cũng khá khó ưa. Khi vì quyền lợi nước Mỹ, nước Mỹ sẵn lòng làm ngơ trước cái xấu!

Văn hoá Châu Á và Hồi giáo Trung Đông đề cao danh dự gia thế và không trân trọng sinh mạng con người. Châu Á chưa bao giờ có truyền thống dân chủ, nặng óc phong kiến, áp bức, đàn áp khai thác người khác cho cuộc sống ích kỷ của mình. Suốt thời Khổng giáo, Phật giáo từng kềm chế tính ác nên dù sao cũng không có cảnh thảm sát dân trong nước như các cuộc thảm sát diệt chủng của Khmer đỏ ở xứ sở Phật giáo. Nhưng Khổng giáo Phật giáo không nói gì đến chiến tranh. Albert Einstein mới nói đến chống chiến tranh và chống quân dịch.

Ông Đặng Tiểu Bình đã dùng tay Khmer đỏ gây ra diệt chủng cho dân Campuchia. CSVN từng đào tạo giúp Khmer đỏ đánh chiếm Campuchia để VN có thể sử dụng đất Campuchia gây chiến tranh với VNCH. Nếu không có việc Khmer đỏ cuối cùng theo Trung Quốc chống VN vì Trung Quốc cung cấp viện trợ thì chắc VN lại im tiếng hay khen Khmer đỏ đã áp dụng thành công hoàn tất cải tạo giai cấp, loại trừ hết bằng cách giết hết giai cấp địa chủ phản động v.v...

3/ Tấm ảnh Cha Nguyễn văn Lý bị bịt miệng tại toà


Bức hình Cha Lý bị bịt miệng tại Toà làm người xem quá đỗi ngạc nhiên đến sững sờ. Ngày ngày, đâu đó trên đất nước VN đều có ngàn vạn chuyện như đùa tệ hại hơn, kỳ dị hơn qua vô số các vi phạm, khiến cho sai trái, sơ sót đã thành ra điều tất yếu không tránh khỏi, khỏi cần tiên đoán. Thí dụ như việc Công An say xỉn cạo đầu dân, truy xét làm cháu bé quá sợ hãi tâm thần... Cao điểm hơn là dằng co xô đẩy với ông đại sứ Mỹ ở VN, chuyện ném mắm thối, xông vào phá nhà, họp cựu chiến binh làm chứ dân không chịu nói không chịu làm để khủng bố chà đạp nhân phẩm, chuyện gây tai nạn xe để đe doạ người không theo phe đảng CSVN mà Bà Dương Thu Hương và vợ các nhà và những người bất đồng bị tù phải trải qua, chuyện gây mất việc cho người muốn nói về dân chủ.

Nhưng ảnh Cha Lý bị bịt miệng tại toà gây sững sờ vì không nghĩ sự thô thiển lại quá tệ như thế trước con mắt quốc tế. Ngoài việc ra toà còn bị còng thì việc không cho nói đã là cấm kỵ vì bị cáo có quyền phản cung! Chuyện “Bịt miệng” thì ai mà tưởng tượng ra nổi!

Trong ảnh anh an ninh chìm rất cơ bắp, nhưng mang vẻ mặt “nông dân” âu lo tội nghiệp hơn là hung ác. Hai cảnh vệ mặc cảnh phục cũng có nét hiền lành lúng túng. Nếu được đào tạo luật pháp hình thành “phản xạ có điều kiện”, anh Tân sẽ phải biết ra toà là phải chờ lệnh toà, dẫn giải bị cáo khỏi toà. Khi có lệnh toà anh hoàn toàn có thể bế xốc cha Lý ốm yếu bị còng tay ra khỏi vành móng ngựa.

Họ là những người được sử dụng như con rối, không được đào tạo gì cả. Chỉ có VN mới có cụm từ “không nghề nghiệp có chỗ làm”. Công an, Hải quan và hầu hết bộ máy của CSVN đến tận chức Chủ tịch, Thủ tướng như Ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Triết cũng không biết đâu mà lần, chỉ được cầm tay chỉ việc, học lấy cả cái đúng lẫn cái sai truyền lao hết người này qua người khác... Việc gì bất ngờ giật mình thì làm theo “phản xạ tự nhiên”. Bình luận bức ảnh là “điển hình vi phạm nhân quyền” cũng đúng mà bình luận “khi CA vô sở học” cũng được. Ai học nhiều, học đàng hoàng đều khó thể chịu cảnh nhà nước biểu gì làm nấy, vì đã có nhận thức trách nhiệm, có ý thức công dân, có lòng yêu nước đúng đắn hơn, hiểu nhiều hơn, sợ hậu quả không dám “làm ẩu” làm càn, chịu đấm ăn xôi. Khi tôi làm công chức tôi đã nhã nhặn thân tình nói thẳng với ông Giám đốc sở: “Chú có thể cách chức cháu chứ không thể buộc cháu làm sai chuyên môn, ảnh hưởng đến bệnh nhân vì khi tốt nghiệp cháu học nghĩa vụ luận và lời thề “Không dùng chất độc hại người. Bất cứ thứ gì không chắc an toàn cho người bệnh thì không đem bệnh nhân ra thử nghiệm”. May mắn là tôi chưa bị mất chức!

Làm điều tốt như bắn ra một mũi tên, từ từ đến đích. Làm điều xấu giống như bắn ra một hòn đá không bao giờ đến đích, tuy nhiên cũng cố lên đến điểm cao rồi mới chịu rơi nhào đầu xuống. Sự cố bịt miệng Cha Lý tại toà sẽ đi vào lịch sử đất nước VN như một điển hình của một chế độ tự thân hỏng hóc nhiều mặt mà hỏng nhất là về tri thức, tâm thức con người do bị sử dụng không qua đào tạo!

Chuyện này giống như khi cán bộ CS trong rừng ra dám thay tên “phòng sanh” ở bệnh viện thành “xưởng đẻ" ! Người cực kỳ dốt mà cực kỳ tự tin khi “nói chữ” khiến ngày đó dân Sàigòn ai cũng phải thấy ra Mỹ thành công biến CS trở về thời đồ đá!

Cá nhân Cha Lý dù là trong tư cách một công dân VN bất bình bị lấy đất thì có quyền kháng cự. Tôi ước gì tuổi trẻ biết kháng cự như thế chứ không để bị còng tay như em kỹ sư nghe lời lãnh đạo cha chú, nghe lời đảng viên, tham gia bè phái chia chác, bị quay phim còng tay trong vụ án cầu Văn Thánh.

Ông Lê Dũng nói “Ở VN không ai bị giam giữ vì chánh kiến”. Phải ngóng cổ chờ, khi nào nhà nước vui, cho đóng góp thì mới đóng góp ý kiến riêng với nhà nước ư? Chủ động bày tỏ chánh kiến khác nhà nước sẽ bị ghép vào tội tuyên truyền chống nhà nước và kết án!

Chuyện viết bài nếu nói sai vu khống thì truy tố tội dân sự sao bắt người ghép tôi hình sự mà cho là không ai bị bắt vì bất đồng chánh kiến? Chẳng lẽ nhà nước cho dân có quyền nghĩ khác, nhưng phải chỉ được “sống để dạ, chết mang theo” ? Cách nhà nước nêu tội trạng đã phải hiểu là như thế: “Riêng Trần Quốc Hiền đã lợi dụng việc giúp đỡ nhân đạo cho số đối tượng đi khiếu kiện để làm quen rồi phỏng vấn, ghi âm, chụp hình... chuyển cho các đối tượng chống phá Nhà nước, viết bài phát tán trên mạng nhằm vu cáo, xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước VN. Nghiêm trọng hơn, Hiền còn tổ chức, tập hợp người dân đi khiếu kiện để biểu tình...” (VietNamNet). Thật sự không có ai nói dối không có xúc phạm mà chỉ giúp dân đòi công lý, sao lại bắt?

Ông Lê Dũng có biết là gán tội những “dân biểu tự nguyện, sứ giả dân chủ” này là nhà nước đang vi phạm điều cuối cùng của Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc mà VN đã ký kết là “không được tự ý diễn dịch trái tinh thần công ước để vi phạm dân chủ nhân quyền" ?

Với hình ảnh Cha Lý bị bịt miệng và các bản án khác thì có thể có bằng chứng chính thức rõ ràng để khiếu kiện ra toà án quốc tế để hủy án nếu VN không hủy án. Thời Tây còn để lại nhiều câu nói như cộng sản ra toà hô to “HCM muôn năm!” không có ai bị Tây bịt miệng! Không còn chối cãi gì là CSVN áp bức dân VN còn hơn Tây nhé!

Mới đây tháng 4.2007 có ý kiến đề nghị giám đốc CIA Mỹ cần phải xuất thân dân sự. Nhìn lại VN rất đáng buồn khi ông Triết ông Dũng đều coi việc mình có thời là lính và mớ học thuyết bạo lực Mác-Lê như một ưu thế, nhưng đáng lẽ phải là kiến thức chánh trị xã hội tâm lý thời hoà bình nhân bản khác hơn như các ý tưởng khác hơn nhân bản hơn như con người một thời chỉ biết phẫn nộ đàn áp mà không biết thương lượng thông cảm trong bài diễn văn của Ông Putin nhân kỷ niệm thắng Phát xít ở mặt trận phía Tây đó. Người lính mang tâm thức bạo lực, hình thành thói quen hạ sát để sinh tồn, hoàn toàn không thích hợp để lãnh đạo đất nước đang cần phát triển. Chắc chắn phân tích và biện pháp của một người dân sự không có thói quen chiến tranh sẽ rất khác hơn quân sự. Sẽ có được nhiều giải pháp cải tổ, ít óc hủy diệt.

Nathan Brown đưa ra bài học chung: "Mỹ biết cách giúp đỡ một nước sẵn lòng chuyển sang dân chủ. Nhưng họ không bao giờ biết làm sao để ép các nhà cai trị, những người không quan tâm cải tổ dân chủ". Nhưng nay không chỉ là Mỹ mà cả thế giới chắc sẽ có cách thúc ép VN tôn trọng dân chủ hơn ! Bây giờ là lúc nhà nước VN bắt đầu thu hoạch “trái đắng” phản đối dành cho bộ máy nhà nước quá hụt hẫng. Ông Triết yêu cầu đàm thoại san bằng cách biệt. Cộng đồng Châu Âu vừa chính thức ra nghị quyết phản đối vi phạm nhân quyền đàn áp bất đồng chánh kiến từ vụ cha Lý, luật sư Đài, luật sư Công Nhân v.v... Đích thân tổng thống Đức, chủ tịch luân phiên hiện tại của cộng đồng Châu Âu EU phải sang VN (24.5.2007) để khuyến cáo VN về nhân quyền! Đâu có gì đàm phán mà báo chí VN cứ nêu khác biệt hai quốc gia để đàm phán, tôn trọng cái riêng của VN! Có hay không có vi phạm những điều VN đã hứa tuân thủ mà thôi!

Trần Thị Hồng Sương
VietNam

mardi 29 mai 2007

la decolonisation

la decolonisation

- La France face a la decolonisation de 1945 à 1962
Dès 1945, la décolonisation s'engage très mal en Algérie, avec la répression ... L'Union française est dotée d'une assemblée purement consultative. ...crdp.ac-reims.fr/cinquieme/decolonisation.htm
1958, d'une République à l'autre
Préface
République nouvelle, République de toujours
De Gaulle et le régime d'assemblée
Les débuts de la construction européenne
Le défi de la décolonisation
Paris-Alger, la crise du 13 mai 1958
Le retour au pouvoir du général de Gaulle
La naissance de la Vème République
L'exercice du pouvoir sous la IVème République
L'exercice du pouvoir sous la Vème République

Les gouvernementsde la IVème et de la Vème République
Le général de Gaulle et l'Algérie
Une France rajeunieLes loisirs des Français en 1958
L'année 1958 dans le monde
De Gaulle et Adenauer à Reims en 1962
Ressources documentaires
Teste tes connaissances
La France depuis 1945 au Bac
Sommaire Vème République

- La Decolonisation Francaise La perte des colonies pour la France ...
La decolonisation francaise au 20eme siecle etaient bien plus difficile que la decolonisation du 18eme siecle. Comme la France avait des colonies en Asie, ...www.ngcsu.edu/academic/Arts_Let/ModLang/FRENCH/StudentWork/blong/frenchdecolon.txt
- la decolonisationLa décolonisation est intervenue en Indochine puis en Afrique noire avec la Tunisie, le Maroc et l'Algérie. A) L'Indochine. La colonie française d'Indochine ...abcscolaire.free.fr/Media/Histoire/decolonisation.htm
- La décolonisationL'ébauche d'une politique de décolonisation française commence donc alors avec la fin de l'Empire français. Les institutions n'ont même pas le temps de voir ...www.keepschool.com/cours-fiche-la_decolonisation_.html
- Amazon.fr : La décolonisation française: Livres: Charles Robert Ageron
Amazon.fr : La décolonisation française: Livres: Charles Robert Ageron by Charles Robert Ageron.www.amazon.fr/décolonisation-française-Charles-Robert-Ageron/dp/2200215762
- Sujet :1945-1962 : La décolonisation française en Afrique ...
Sujet :1945-1962 : La décolonisation française en Afrique. vendredi 27 mai 2005 à 22:04 :: Sujets Histoire :: Alerter la modération ...blog.france2.fr/baccalaureat/index.php/2005/05/27/1401-sujet-1945-1962-la-decolonisation-francaise-en-afrique
- Congo an I. Décolonisation et politique francaise au Congo ...
L’enjeu de la décolonisation de l’Afrique noire française répond à des logiques coloniales, africaines, nationales et internationales. ...theses.enc.sorbonne.fr/document1046.html
- Amazon.fr : Etapes de Decolonisation Française: Livres: X. Xacono
Amazon.fr : Etapes de Decolonisation Française: Livres: X. Xacono by X. Xacono.www.amazon.fr/Etapes-Decolonisation-Française-X-Xacono/dp/2130376053
- DÉCOLONISATION - Encyclopédie Universalis
La décolonisation de l'Empire britannique. La décolonisation française ... Le terme « décolonisation », contrairement à une opinion répandue, ...www.universalis.fr/corpus.php?nref=C097040
- Décolonisation - Wikipédia
La décolonisation est un processus d'émancipation des colonies par rapport ..... Mais cette Communauté française de 1958, n'allait pas faire long feu sous ...fr.wikipedia.org/wiki/Décolonisation
- DÉCOLONISATION - Encyclopédie Universalis
La décolonisation des Indes néerlandaises ... La décolonisation française ... Le terme « décolonisation », contrairement à une opinion répandue, ...www.universalis.fr/corpus-encyclopedie/130/c097040/encyclopedie/decolonisation.htm
- La décolonisation Francaise
La décolonisation Francaise. AGERON Charles-Robert A. COLIN , 1991, p. 187 Etude de la fin de l'empire colonial français de 1945 aux années 60. ...www.biblio.college.interarmees.defense.gouv.fr/DocumentPrint.htm?numrec=031959168913190
- Fiche document -La décolonisation Francaise
La décolonisation Francaise AGERON Charles-Robert · A. COLIN , 1991, p. 187 Etude de la fin de l'empire colonial français de 1945 aux années 60. Mots-clés ...www.biblio.college.interarmees.defense.gouv.fr/Document.htm&numrec=031959168913190
- JSTOR: Les chemins de la decolonisation de l'empire colonial ...
Les chemins de la decolonisation de l'empire colonial francais, 1936-1956. Paris: Editions du CNRS, 1986.564 pp. Ce volume est le resultat d'un colloque de ...links.jstor.org/sici?sici=0008-3968(1989)23%3A1%3C165%3ALCDLDD%3E2.0.CO%3B2-C
- [PDF]
De la « guerre froide » au monde d’aujourd’hui • Place dans la ...
Format de fichier: PDF/Adobe Acrobat - Version HTMLTravail sur la décolonisation française à partir d’un extrait vidéo confronté à un texte, puis d’un extrait de. discours. L’extrait vidéo est : Les ...www.ac-grenoble.fr/.../hg/file/pedagogie/methodologie/Travail_Jalons(2007)/Guerre_Froide/fiche_profs_GF.pdf
- [PDF]
De la « guerre froide » au monde d’aujourd’hui • Place dans la ...
Format de fichier: PDF/Adobe Acrobat - Version HTMLTravail sur les formes de la décolonisation au travers de l’exemple de la décolonisation française :. ▪. La forme violente est abordée à partir de ...www.cinehig.clionautes.org/telechargement/jalons-monde-post45-bilan-np-br.pdf
- Site officiel de l’université Paris IV Sorbonne
du 18 au 20 mars 1999 : organisation à l’université de Paris XII d’un colloque sur « L’Allemagne et la décolonisation française », avec la participation de ...www.paris4.sorbonne.fr/fr/article.php3?id_article=5145
- Carte de la décolonisation de l'Afrique
Clio en Afrique - Bulletin d'Anthropologie et d'Histoire Africaines en langue française. • Les Nations Unies et la décolonisation - l'ONU et la ...www.atlas-historique.net/1945-1989/cartes/AfriqueDecolonisation.html
- Vidéo: Colonisation et décolonisation de l'Afrique: le cas ...
LinkBack to this Thread: http://www.soninkara.com/forums/actualites-coupures-de-presse/video-colonisation-et-decolonisation-de-lafrique-le-cas-francais-626. ...www.soninkara.com/.../video-colonisation-et-decolonisation-de-lafrique-le-cas-francais-626.html
- [PDF]
Colonisation, décolonisation et émergence du Tiers-Monde
Format de fichier: PDF/Adobe Acrobat - Version HTMLLa décolonisation de l’Algérie française. Propagande en faveur de l’Algérie française (vers 1957) 10. Barricades à Alger en janvier 1960 . ...www.yodawork.com/images/EDUSCOPE/da/doc2004/052656/052656colonisationsommaire.pdf

- Les décolonisations enseignées en classe de troisième
R Ageron : la décolonisation française , A. Colin, coll. Cursus 1991. - G. Perville : De l’Empire français à la décolonisation, Hachette, Carré Histoire ...histgeo.ac-aix-marseille.fr/a/div/d004.htm
- [PDF]
Niveau Maîtrise
Format de fichier: PDF/Adobe Acrobat - Version HTML-Afrique noire, 1956-1960 : décolonisation ou transfert de pouvoir ? -La décolonisation française : quelques éléments de comparaison avec l’expérience ...www.uhb.fr/cirefe/maitrise.pdf

( http://www.google.fr/search?q=d%C3%A9colonisation+francaise&hl=fr&start=90&sa=N )

lundi 28 mai 2007

Không có việc UNESCO vinh danh HCM

Re: Bạn TUAN PARIS và bạn Mac Phuơng Hoàng

09-05-2005

Truc Le
Australia

Thưa các bạn,

Để rộng đường dư luận tôi xin post hai bài sau đây bàn về vấn đề này (lấy từ Web Phù Sa):

From: Olivervu
To: Phusa
Sent: Tuesday, December 24, 2002 2:53 PM

Subject: Ho chi Minh, danh nhan the gioi ?

Toi co xem van kien cua UNESCO de nghi mung sinh nhat lan thu 100 cua Ho chi Minh qua mang luoi www.ykien.net, nhung toi chua xem duoc quyet dinh huy bo buoi le ky niem do. Toi rat cam on neu mang luoi phusa lien lac duoc voi UNESCO tim duoc quyet dinh huy bo su vinh danh Ho Chi Minh. Than chao
_____________

Một thắc mắc cần làm rõ

Bạn Olivier Vu thân mến,

Trước tiên xin bạn thông cảm cho sự chậm trể việc trả lời thắc mắc của bạn. Vì thời gian qua Phù Sa phải đối đầu với sự phá hoại của Nhà nước CHXHCN/VN, như bạn đã biết qua những thông tin trên mạng http://phusa.free.fr. Hôm nay công việc đã vơi đi phần nào, Phù Sa cũng đã tái cấu trúc hoàn toàn mới trên địa chỉ www.phusa.net Chúng tôi đã liên lạc được những người trong các tổ chức tranh đấu VN/HN liên hệ đến sự việc cách nay 13 năm thì được ông Nghiêm Văn Thạch một trong những nhân chứng tại hiện trường lúc bấy giờ cho biết như sau :

1/ Ngày 12/5/1990, người VN biểu tình đông đảo trước trụ sở UNESCO để phản đối việc vinh danh HCM do phái đoàn Việt Cộng đề nghị năm 1987 cùng với một số quốc gia Cộng Sản và thân Cộng, vinh danh HCM như "Một vĩ nhân văn hóa". Con số ước lượng số người tham dự biểu tình ngày hôm ấy lên tới 900 người. Theo lời kêu gọi của Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, đã trương những biểu ngữ tố cáo những tội ác và gian trá của HCM cùng tập đoàn bán nước hại dân, tội giết hại mấy triệu người Việt. Gian trá từ ngày sinh, tháng đẻ đến ngày chết về với Mác, Lenin,... Còn nói về văn hóa thì chỉ là một tên thất học (bị đuổi sớm), ăn cắp thơ của một người Trung Hoa có tuổi cùng bị giam rồi nhận là thơ của mình (Xem Gs. Lê Hữu Mục: "Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhựt ký").

2/ Trưa ngày 12/5/1990, một phái đoàn 3 người gồm ông Trần Văn Tòng, ông Olivier Todd và cô A.M. Goussard thay mặt dân biểu tình vào gặp ban Giám đốc UNESCO xin họ xác nhận là "không có việc vinh danh HCM" hôm nay. Lúc trở về hội trường Maubert Mutualité, nơi Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá tổ chức cuộc họp mặt với chủ đề "6 giờ Sự thật cho VN" ông Olivier Todd lên diễn đàn nhấn mạnh nhiều lần là "Không có việc UNESCO vinh danh HCM" hôm nay.

Theo sự nhận xét khách quan của Phù Sa qua những lời thuật lại trên đây (do nhiều nguồn tin khác nhau, mà theo lời yêu cầu của các tác giả, chúng tôi không thể nêu tên ra đây, xin bạn thông cảm!) thì đây là một trong những chứng liệu lịch sử mà rất nhiều người biết : 900 người biểu tình trước UNESCO và 800 người ở Maubert Mutualité nghe ông Olivier Todd kể lại. Qua đó, gia nô tuyên truyền và bồi bút cho VC huênh hoang khoe rằng UNESCO vinh danh HCM là "Một vĩ nhân văn hóa" chẳng qua chỉ tiếp nối chính sách gian tra lường gạt nhân dân mà thôi.

Ngoài ra, bạn cũng có thể viếng thăm UNESCO trên mạng : www.unesco.org
Và sau đây là bài Phóng sự của một bạn đọc viết về những diễn biến chung quanh vấn đề UNESCO tôn vinh HCM. Kính mời các bạn theo dõi. Tuy nhiên tác giả đã lầm về ngày tháng của cuộc biểu tình. Vì tôn trọng tác giả nên chúng tôi không sửa, mong các bạn hiểu cho.

Giải trừ huyền thoại: UNESCO & HỒ CHÍ MINH

Ðầu năm 1987, ô. Trần Văn Ngô (Từ Nguyên) là chuyên viên theo dõi thời cuộc trong tập thể tranh đấu tại Pháp, đã triệu tập một buổi họp các nhân sĩ cùng đại diện đoàn thể ở khu vực Paris-Ile de France để báo động : đảng CSVN vận dụng UNESCO để vinh danh Hồ Chí Minh, hy vọng lấy lại hào quang ngụy tạo "anh hùng giải phóng dân tộc" cho xác ướp mà họ đã dựng thành biểu tượng của Xã hội Chủ nghĩa.

Theo tin tức nhận được, CSVN căn cứ vào tập tục UNESCO nhắc nhở ngày sinh nhật thứ 100 của các vĩ nhân trong lãnh vực cơ quan Liên Hiệp Quốc hành động, xếp đặt ghi tên Hồ Chí Minh vào danh sách sinh nhật bách niên năm 1990, rồi dự tính vận động tiếp để đến năm ấy sẽ có khoản tài trợ của UNESCO dùng tổ chức rầm rộ kỷ niệm ở trụ sở Paris ; đài thọ những buổi lễ cùng thời điểm ở VN và tại một số thủ đô, thành phố lớn khắp thế giới ; tổ chức triển lãm và ấn hành sách báo đặc biệt về sự nghiệp lừng lẫy của Hồ Chí Minh, "nhà cách mạng và nhà văn hóa trác tuyệt" ! ! !

Hội nghị đã thảo luận, phân tách hoàn cảnh cùng thời cơ thuận lợi cho CSVN :
Dư âm cuộc chiến thắng 30.4.1975 khiến Hồ Chí Minh còn lưu giữ cảm tình : trong tả phái Âu Mỹ Úc chưa đủ can đảm thừa nhận sai lầm quá khứ ; trong quần chúng Á châu, Phi châu thiếu thông tin nghị luận chính xác.

Phái đoàn đại diện CSVN, theo nguyên tắc luân phiên trong Tiểu ban Văn hóa UNESCO, đến lượt tham gia Ban Chấp hành Tiểu ban ; đề nghị của họ chắc chắn được sự chấp nhận của đa số thành viên là những nước Á Phi, khi trước từng biểu lộ cảm tình thiên lệch trong cuộc chiến VN-2.

Khi Tiểu ban đã tán thành, Ðại Hội Ðồng thường thông qua đề nghị doTiểu ban chuyển lên, không có thảo luận gì cả.

Một yếu tố bất lợi quan trọng khác là hậu thuẫn của
Ông M’Bow, Tổng Thư Ký kiêm Giám đốc Văn phòng trung ương UNESCO. Ông trấn nhậm hai nhiệm kỳ liền trụ sở Paris nhờ sự ủng hộ của Nga Sô cùng chư hầu CS, và các nước Á Phi chống đối Hoa Kỳ.

Theo vết thân phụ là lãnh tụ độc tài tham nhũng ở một quốc gia chậm tiến Phi châu, ông đã trắng trợn khai thác thủ lợi guồng máy quản trị cơ quan quốc tế. Thành tích nổi bật của ô. M’Bow là cài đặt rất nhiều thành viên bộ tộc (tribu) của ông - đương nhiên với lương cao bổng hậu không cần chiếu theo bằng cấp hay khả năng, thậm chí không phải làm việc, không cần có mặt ở sở - vào số viên chức thực thụ (nếu sa thải phải bồi thường rất nặng) của Văn phòng. Nhân số ăn bám cộng với chi tiêu bừa bãi Ố có hà lạm, nhưng về sau không ai muốn bới móc thêm ra - khiến cho ngân quỹ UNESCO liên tục thâm thủng trầm trọng. Vì thế, tại đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ phủ quyết (veto) đề nghị gia tăng ngân sách dành cho UNESCO, sau đó tạm đình chỉ sự đóng góp cho riêng cơ quan này. Anh quốc với vài nước Âu Mỹ hưởng ứng sự tẩy chay góp tiền cho cá mập. Chỉ riêng niên liễm của Hoa Kỳ đã là ngân khoản cao nhất trong thu nhập của UNESCO mỗi tài khóa. Ô. M’Bow lúc đó chuẩn bị tái ứng cử nhiệm kỳ thứ ba, vậy sẽ ra sức tán trợ đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh để tranh thủ lá phiếu của khối CS và các nước Ðệ Tam, luôn thể, để trả đũa sự phản kháng cùng hành động thắt chặt túi tiền của Hoa Kỳ.

Hội nghị cũng lượng định một cách thực tiễn trở ngại lớn lao phải đương đầu vì thiếu phương tiện tài chính và nhân sự ; vì thái độ thờ ơ bất động dễ phỏng đoán của nhiều thành viên Liên Hiệp Quốc không cộng sản gồm cựu thân hữu của VN Cộng Hòa như Nhật Bản, Ðại Hàn, Phi Luật Tân ; của giới truyền thông và dư luận kể cả Hoa Kỳ ; vì địa vị cô đơn và thiểu số của tập thể tị nạn VN khó gây nên sức mạnh chuyển đổi cần thiết. Tuy nhiên, hội nghị vẫn quyết tâm đương đầu và nhất trí nỗ lực tìm phương cách giải trừ kế hoạch CSVN lợi dụng UNESCO để tuyên dương Hồ Chí Minh và chế độ tàn bạo phi nhân ông tạo lập. Một ủy ban hành động được tức thời thành lập, với ô.Nguyễn Văn Trần là tổng thư ký ; phụ tá là một số tuyển chọn trong các nhân sĩ, đại diện đoàn thể hiện diện.

Tại một buổi họp thường kỳ sau đó ở trụ sở Hội Thanh niên Tị nạn cho xử dụng, ủy ban chọn danh hiệu là Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh. Chủ đích ủy ban tự vạch là tiến tới một luận định quốc tế vô tư, đúng đắn, về các hành động của Hồ Chí Minh và CSVN vi phạm nhân phẩm nhân quyền, hủy diệt văn hóa, mâu thuẫn với mục tiêu của Liên Hiệp Quốc và UNESCO. Ủy ban cũng có ý mong công luận thế giới nhân dịp, duyệt lại những biến cố lịch sử đã bị xuyên tạc, bóp méo, với nhãn quan một chiều của phe phản chiến, đặc biệt là Tòa án Chiến tranh VN do Bertrand Russell đề xướng. Công tác khẩn yếu là thâu thập những dữ kiện đích xác về tội ác của Hồ Chí Minh và đảng CSVN, yêu cầu chứng nhân và nạn nhân tiếp tay với Ủy ban lập thành hồ sơ sẽ trình bày trong một cuốn ỡhắc thưữ (livre noir) coi như bản cáo trạng trước thế giới. Cùng lúc, chiến dịch gửi thư phản kháng tới UNESCO được phát động.

Hầu hết các cơ quan truyền thông Việt ngữ - báo chí, chương trình phát thanh, bản tin nội bộ - ở các nước định cư đã sốt sắng phổ biến tin tức và tài liệu do Ủy ban cung cấp; lại tự động đăng tải nhiều bài viết, nhiều thư tố cáo huyền thoại Hồ Chí Minh do ký giả, nhân sĩ, nhà văn hóa giáo dục, đại diện đoàn thể, gửi đến. Vị Giám đốc Ðông Nam Á Vụ của UNESCO sau này cho Ủy ban hay đã tiếp nhận tổng cộng hơn ba mươi ngàn thư phản kháng. Cộng đồng người Việt ở Pháp và một vài nước lân cận đã hăng hái tham dự cuộc biểu tình chống đối do Ủy ban đề xướng nhân Ngày Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc 1987 ở công trường Nhân quyền, đối diện tháp Eiffel.

Tại lãnh vực tranh đấu trực diện là UNESCO, ủy ban trù liệu tiếp xúc rộng rãi với các thành viên quốc gia không cộng sản, các thành viên là tổ chức ngoài chính quyền (Organisation Non Gouvernementale - ONG), các nhân vật chủ chốt ở cơ quan Liên Hiệp Quốc, kể cả Tổng Thư Ký M’Bow đương nhiệm. Luận cứ đầu tiên Ủy ban trình bày là CSVN muốn UNESCO lấy ngày 19.5.1990 làm sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh. Nhưng theo sự kê khai của đương sự hồi sinh tiền và theo các tài liệu chính thức của đảng, Hồ Chí Minh có tới 5 ngày tháng năm sinh khác nhau. Thời điểm lễ kỷ niệm quốc tế ấn định một cách hồ đồ sẽ khiến cho uy tín của UNESCO và Liên Hiệp Quốc bị thương tổn. Bằng chứng gần cận về lề thói thay đổi dữ kiện lịch sử bởi CSVN là họ đã loan báo Hồ Chí Minh tạ thế ngày 03.9.1969, trong khi ông mất từ ngày hôm trước, 02.9.1969.
Và để tạo áp lực phía chính phủ Pháp - có ảnh hưởng đáng kể vì Paris là nơi đặt trụ sở UNESCO - Ủy ban tranh thủ được sự ủng hộ triệt để của Hội Người Pháp Ðông Dương (ANAI : Association Nationale des Anciens d’Indochine) gồm các gia đình Pháp kiều, cựu quân nhân khi trước cư trú hay phục vụ tại ba nước Việt-Mên Lào. Hai bên đồng ý phối hợp chương trình và phương thức vận động.

Hội ANAI sẽ nhường cho cộng đồng VN ra mặt trước công luận, đi hàng đầu khi biểu tình, hội họp, để Hội khỏi vướng mắc lời đối phương cáo buộc có hành động trả thù sự thất trận năm 1954.

Do sự thúc đảy của Hội ANAI và lời thỉnh cầu của Ủy ban, một số dân biểu, nghị sĩ đối lập lên tiếng chất vấn trên diễn đàn quốc hội, yêu cầu chính quyền - do tả phái lãnh đạo sau khi ô. Mitterand đắc cử tổng thống năm 1981 - bác bỏ sự vinh danh Hồ Chí Minh. Thêm lời rỉ tai ở hậu trường : nếu chính phủ Pháp có thái độ tán thành, Hội ANAI, các chính đảng phái hữu, và Ủy ban hành động của người Việt, sẽ huy động cựu chiến binh gồm thương binh và gia đình tử sĩ trận chiến VN-1, cùng với thuyền nhân, người tị nạn CS mọi quốc tịch, các đoàn thể như Hội Y sĩ Thế giới, Hội Nhân quyền, v.v... xuống đường liên tiếp khắp nơi. Kết quả là chính phủ Pháp hứa đứng ngoài không bỏ phiếu nếu Ðại hội đồng UNESCO thảo luận nghị quyết đề cao Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, như đã dự đoán, Tiểu ban Văn hóa với đa số thuận, đã ghi vào nghị trình Ðại hội đồng UNESCO năm 1987 danh sách sẽ được tuyên dương năm 1990 gồm 7 nhân vật : Phya Anuman Rajadhon (Thái Lan), Thomas Munzer (Ðông Ðức), Anton Semionovitch Makarenko (Liên Sô), Hồ Chí Minh (Việt Nam), Jawaharlal Nehru (Ấn Ðộ), và Sinan (Thổ Nhĩ Kỷ>). Lời tuyên dương Hồ Chí Minh dùng trọn bản văn do phái đoàn CSVN soạn cũng như lời tuyên dương các nhân vật khác do phái đoàn quốc gia liên hệ đề nghị - được Ðại hội đồng thông qua không thảo luận.

Ủy ban đành chuyển qua vận động giảm thiểu tầm vóc tổ chức kỷ niệm. Hai biến cố thời sự đem lại thời cơ thuận lợi cho hành động của Ủy ban và các đồng minh.
- Ông M’Bow thất cử ;
- Ông Frederico Meillor, nhân sĩ Tây-Ban-Nha (Espagne), thay thế làm Tổng Thư Ký UNESCO.
- Rồi những chính thể cộng sản ở Ðông Âu kế tiếp sụp đổ ;
- Chấn động vang nhất là sự phá hủy "bức tường ô nhục" ở Bá-Linh (Berlin) và
- Sự thống nhất Ðức quốc sớm hơn các lời tiên đoán.
- Sự phát triển mạnh mẽ của trào lưu dân chủ có hiệu lực xóa bỏ luôn những công trình che dấu, thổi phồng, hóa trang, của guồng máy tuyên truyền cộng sản.

Bộ mặt thực của mô hình chế độ cộng sản, của các lãnh tụ tối cao Staline, Mao Trạch Ðông, Hồ Chí Minh, Ceaucescu, Kim Nhật Thành, v.v... dần dần bộc lộ, làm tiêu tan những hình ảnh thần tượng tuyệt đỉnh hoàn mỹ dựng lên từ mấy chục năm.

Ủy ban được vị tân Tổng Thư Ký Frederico Meillor trấn an : không thể hủy bỏ nghị quyết 1987 (phải do một nghị quyết khác của Ðại hội đồng), nhưng UNESCO sẽ không tổ chức kỷ niệm và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh Hồ Chí Minh tại trụ sở Paris.

Thực tế là ngân sách UNESCO do ông soạn thảo sẽ không dự trù ngân khoản cho công việc đó. Việt Nam cùng nước nào muốn cử hành lễ sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh là tùy ý riêng, không liên quan gì tới UNESCO cả.
Do đó, Ủy ban nhận định rằng công tác mà cộng đồng ủy nhiệm đạt kết quả tương đối thỏa mãn.

- Ủy ban quyết định chấm dứt chiến dịch thư phản kháng ;
- đình chỉ việc lập hồ sơ, ấn hành hắc thư tố cáo tội ác Hồ Chí Minh và CSVN ;
- không trù liệu tập họp, biểu tình phản đối kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh bởi UNESCO vì sự việc ấy sẽ không xảy ra.
- Nhưng Ủy ban tiếp tục theo dõi nội vụ để phản ứng khi cần thiết.

Quả nhiên trước ngày 19.5.1990, Ủy ban được tin rằng CSVN loan báo mập mờ kỷ niệm trọng thể sinh nhật bách niên của Hồ Chí Minh tại phòng khánh tiết UNESCO.
Một số văn công nghệ sĩ từ quốc nội sang, gồm đoàn múa rối nước, sẽ trình diễn trong buổi lễ, phụ thêm triển lãm và tiếp tân.
Tổng thư ký Nguyễn Văn Trần lập tức tới gặp ông Giám đốc Ðông Nam Á Vụ UNESCO để chất vấn, mang theo thiệp mời của sứ quán in hình Hồ Chí Minh với bối cảnh là trụ sở UNESCO.

Nhà chức trách đó cho hay UNESCO tiếp đơn giữ chỗ trước, đã theo qui lệ cho sứ quán mướn 2 căn phòng thường dành cho mọi sinh hoạt của thành viên mà thôi. Ông không hay biết chương trình tổ chức, và nếu có thiệp mời, chắc chắn ông Tổng Thư Ký cùng các cộng sự viên sẽ không tham dự.

Ông ghi nhận lời phản đối hợp lý của Ủy ban, bảo đảm Văn phòng sẽ đòi sứ quán hủy bỏ thiệp mời có thể gây ngộ nhận.

Hội ANAI tiếp xúc với Bộ Ngoại giao Pháp, cũng được xác nhận không có đại diện chính quyền, nhân viên chính phủ, đại diện quốc hội, đại diện Ðô thành Paris, tham dự lễ kỷ niệm hay tiếp tân, triển lãm, sứ quán CSVN dự liệu.

Sau đó, sứ quán CSVN đã phải thu hồi thiệp mời in hình Hồ Chí Minh gửi cho ngoại giao đoàn, thành viên UNESCO, các nhân vật chính quyền và dân sự Pháp "ê mặt " ; thiệp chỉ xử dụng với tính cách nội bộ để mời Việt kiều.

Một đặc phái viên của Ủy ban tới trụ sở UNESCO ngày 19.5.1990 (Phù Sa xin sửa lại là ngày 12/5/1990) để kiểm tra, báo cáo rằng chung cuộc, sứ quán CSVN chỉ mướn một phòng sinh hoạt nhỏ thay vì hai (gồm thêm một phòng lớn có sân khấu).

Nhân số hiện diện khoảng chừng 60, 70 tân khách ; hầu hết là hội viên Việt kiều Yêu nước. Lác đác vài khuôn mặt ngoại quốc, phỏng đoán là đảng viên cộng sản Pháp, thành viên các phái đoàn thân hữu với chế độ như Cuba, Trung quốc, Bắc Hàn, Mên, Lào.
Một cuộc biểu tình phản kháng vào đúng giờ khắc buổi kỷ niệm của sứ quán CSVN qui tụ hơn một trăm người đã diễn ra ở công trường Fontenoy gần trụ sở UNESCO.
Hành động do Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, không phải là thành viên Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh (vì chưa ra đời năm 1987), đề xướng.

Hai đại diện đoàn biểu tình là ông Trần Văn Tòng và ký giả Olivier Todd đến trụ sở UNESCO đưa lời phản kháng đã được ông Giám đốc Ðông Nam Á Vụ tiếp kiến.
Khi nghe xong lời trình bày về lập trường và thái độ của cơ quan Liên Hiệp Quốc, sự can thiệp của Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh và các biện pháp đã thỏa hiệp, hai vị đại diện đồng ý là UNESCO vô can ; đoàn biểu tình sẽ chỉ tập trung hành động để đả đảo sự vinh danh Hồ Chí Minh, người có tội trước lịch sử nhân loại đã tàn hại đất nước và dân tộc Việt Nam và hai nước láng giềng Mên Lào.

Ủy ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh chính thức giải tán cuối tháng 5 dl. 1990.
Ðáng tiếc là Ủy ban không chủ trương quảng bá thành quả công tác vì cho rằng đó là bổn phận, nên còn có thể có dư luận thiếu chính xác ngay tại Pháp về thủ đoạn của đảng CS mập mờ xử dụng danh nghĩa UNESCO đánh bóng hình tượng Hồ Chí Minh.

Nghiêm Văn Thạch
(Theo Phù Sa)
--------------------------------------------------------
Nhơn dịp tháng 5.
Nhắc lại một chuyện cũ của 13 năm về trước
để trả lời một số e-mails từ Việt nam gởi ra :

UNESCO không thi hành Quyết nghị "Hồ Chí Minh là nhà văn hóa"

•Nguyễn Ðông A thuật
Nam Linh - Phan Văn Song ghi

Mười năm sau, báo An ninh thế giới, số 177 xuất bản tại Hà nội cho đăng một bài với tựa "Bảo vệ lể kỷ niệm 100 ngày sinh của bác Hồ ở trụ sở Unesco (Pháp)".

Tại sao "bảo vệ" ? Nếu lể sanh nhựt 100 năm của HCM được Unesco tổ chức thì không cần phải bảo vệ bởi phía Tòa Ðại sứ Hà nội, bởi vấn đề an ninh đã thường xuyên được Unesco đãm trách.
Phải bảo vệ như lời tựa của bài báo viết (báo công an) vì buổi lể kỷ niệm ấy thật sự không được Unesco tổ chức mà do hoàn toàn Tòa Ðại sứ Hà nội tự lo liệu.

Diễn tiến sự việc :
Năm 1987, Ðại hội đồng Unesco đã chấp thuận một quyết nghị tôn vinh Hồ Chí Minh là danh nhơn thế giới (nhà giải phóng dân tộc, nhà văn hóa). Theo quyết nghị này, Unesco sẽ trợ cấp cho Hà nội một ngân khoản để tổ chức lể kỷ niệm 100 năm taị trụ sở Unesco Hà nội, ấn hành tranh ảnh, sách báo nói về sự nghiệp văn hóa và giải phóng của lão. Riêng Unesco tại Paris cũng sẽ tổ chức lể kỷ niệm tại trụ sở với sự tham dự của Ban lãnh đạo Unesco, đại diện chánh phủ Pháp và Thị xã Paris.
Sở dỉ Quyết nghị này được thông qua dễ dàng ở Ðại hội đồng vì ông M'Bow, một người phi châu đen, làm Tổng Giám đốc Unesco có xu hướng thân Cộng sản đã tích cực vận động các thành viên trong Unesco.

Ngay khi Quyết nghị vừa được phổ biến, cộng đồng người Việt tại Paris liền lập tức hop nhau lại để tìm phương cách phản đối Unesco.

Một tổ chức thành hình : ỦY BAN TỐ CÁO TÔI ÁC HỒ CHÍ MINH gồm một Tổng Thư Ký và nhiều Ủy Viên . Ông Nguyễn Văn Trần được các thân hữu ủy nhiệm làm Tổng Thư Ký với sự hợp tác trợ lực tích cực của các ông Trần Văn Ngô, Chu Vũ Hoan, Nguyễn Thừa Thính, Nghiêm Văn Thạch, Vũ Hạ .. Ủy Ban Vận động kiều bào ở khắp nơi : Hoa Kỳ, Úc, Canada và Âu Châu, viết thư cho Unesco phản đối Quyết nghị sai lầm kia và vạch trần tội ác Hồ Chí Minh từ khi nắm chánh quyền ở Hà nội và của chế độ qua các biến cố cụ thể như vụ Nhân văn Giai phẩm, cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, vụ thảm sát Mậu Thân Huế và ở miền Nam sau 1975, việc tập trung cải tạo, đánh tư sản mại bản, đày dân đi kinh tế mới, tổ chức vượt biển thu vàng, thảm nạn vượt biển ..
Ðồng thời Ủy ban cũng kêu gọi báo chí việt ngữ hải ngoại tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản Hà nội viết lại và phổ biến để ngăn chận ảnh hưởng của Nghị quyết Unesco này.

Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với tướng Simon, chủ tịch Ủy Ban Tương trợ Việt-Miên-Lào và chủ tịch Hội cựu Ðông Dương ANAI, để kêu gọi Hội cựu chiến binh Pháp lên tiếng tố cáo tội ác của Hồ Chí Minh và Ðảng Cộng sản đã vi phạm Nhơn quyền đối với tù binh pháp sau chiến tranh đông dương.

Ông Nguyễn Văn Trần liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp am hiểu về chế độ cộng sản Hà nội để yêu cầu họ đặt những câu hỏi với chánh phủ Pháp tại Quốc hội Pháp để có thái độ đối với Quyết nghị Unesco, bởi Pháp là quốc gia đón nhận trụ sở Unesco.

Bức tường Bá linh sụp đỗ kéo theo khối Cộng sản Ðông âu đã ảnh hưởng sâu đậm đến nếp suy nghĩ về Cộng sản của các nước Âu châu và của thế giới. Ông Frédéric Mayer, người Tây ba nha vừa đắc cử Tổng giám đóc Unesco. Ông nầy am hiểu cộng sản nên không có xu hướng ủng hộ phe khuynh tả trong Unesco như ông M'Bow trước kia. Kiều bào Việt nam ở khắp nơi viết thư gởi về Unesco, có đến hàng hai mươi ngàn thư phản đối, yêu cầu hũy bỏ Quyết nghị. Số thư này được ông Giám đốc trách nhiệm vùng Ðông Nam Á ở Unesco cứ tuần tự đến cuối tuần chuyển đến đại diện Hà nội tại Unesco.

Ông Nguyễn Văn Trần sưu tầm tài liệu tại các thư viện và văn khố Pháp chứng minh sự đề cao HCM của Hà nội như là một vĩ nhơn là hoàn toàn dối trá. Thân phụ của Hồ Chí Minh say rượu phạt đòn làm chết oan một tội nhơn nên bị mất chức chứ hoàn toàn không vì chống Pháp mà từ quan. Không còn nguồn lợi tức để sanh sống và học hành , HCM bỏ vào Phan Thiết nhờ Hội Liên Thành nhận cho dạy học sanh sống qua ngày. Nhưng số học sanh của một tỉnh lẽ lúc bấy giờ không đủ bảo đảm cho y một mức sống ổn định nên năm sau đó y rời Phan thiết vào Sài gòn để xuống tàu Pháp xin làm phụ bếp cho có đồng lương đêù đặng và khá giả hơn.

Hồ Chí Minh xuống tàu Pháp tại bến Nhà Rồng ở Sài gòn hoàn toàn chỉ nhằm tìm kế sanh nhai cho bàn thân và gởi tiền về nước giúp phụ thân thôi.
Vì cha y thuộc diện hành chánh của chánh quyền thuộc địa nên Hồ Chí Minh làm đơn xin ban học bổng để mong sau này "giúp ích Nhà nước Pháp". Ðơn xin bị từ chối. Qua các văn kiện do HCM viết và khai báo ghi nhận : HCM có nhiều ngày sanh khác nhau. Ngày chết của y cũng bị Ðảng Cộng sản thay đổi: ngày 2 tháng 9 năm 1969 biến thành ngày 3 tháng 9.

Những chi tiết hộ tịch này đã phơi bày sự thiếu chánh xác và sự dối trá đã giúp Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh thuyết phục Unesco không thể chấp nhận ngày 19/5 là ngày sanh của HCM. Một cơ quan văn hóa và khoa học của Liên Hiệp Quốc không thể chấp nhận sự dối trá được.
Từ đấy, Unesco bắt đầu nghi ngờ thành tích của Hồ Chí Minh là "nhà văn hóa" và tin những lời phản kháng của cộng đồng người Việt nam ở hải ngoại, bởi không ai hiểu rõ HCM hơn người Việt nam và đặc biệt những người Việt nam nạn nhơn của chế độ Hồ Chí Minh.

Thế là trước ngày 19 tháng 5 năm 1990, ông Nguyễn Văn Trần được mời đến Unesco cùng với Tướng Simon để Unesco cho biết quyết định của họ là không thi hành Quyết nghị. Unesco giải thích là không thể hủy bỏ Quyết nghị được, bởi muốn hủy bỏ phải thông qua Ðại Hội dồng, với nhiều thủ tục phiền toái.

Tiếp theo đó, Unesco thông báo cho Hà nội biết quyết định với những chi tiết như sau:
1/.- Unesco không tổ chức lễ 100 năm của HCM tại Paris và Hà nội.
2/.- Cho Tòa Ðại sứ Hà nội ở Paris mướn (dấu sắc) một phòng trong trụ sở Unesco Paris để tự tổ chức (Hà nội muốn thuê hai phòng , nhưng không được phòng thứ hai vì bị Ủy ban Tố cáo Tội ác HCM can thiệp ngăn chặn).
3/.- Unesco và chánh quyền Pháp, kể cả Thị xã Paris không tham dự lễ.
4/.- Ban tổ chức không được lạm dụng để tuyên truyền chánh trị và đề cao HCM là " nhà văn hóa" theo tinh thần Quyết nghị.
5/.- Thiệp mời không được in hình HCM và ghi lễ "sanh nhựt HCM và nhà văn hóa" .. mà chỉ ghi mời " tham dự buổi văn nghệ".

Quyết định không thi hành Quyết nghị củ Unesco với những ngăn cấm như trên đây đã được Văn Chấn , tác giả bài báo của An ninh thế giới, số 177 thừa nhận nguyên văn như sau:

" .. Ðiển hình là một số người Việt nam lưu vong ở Pháp, Mỹ và một số nước đã tụ tập nhau ở Paris thành lập cái gọi là "Ủy ban chống tôn vinh HCM" (thật sự là Ủy ban tố cáo tội ác HCM, nhưng tác giả sợ phạm húy nên cải "tố cáo tội ác" thành "chống tôn vinh") do các tên Nguyễn Văn Trần, Nguyễn Thừa Thính, Chu Vũ Hoan.. Chúng tích cực vận động một số nhơn vật hữu phái trong chánh quyền các nước ký tên vào thư yêu cầu Tổng Thư ký Unesco hũy bỏ quyết định kỷ niệm ngày sanh của bác. Chúng viết bài cho các báo phản động người Việt nam xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời bác..
Ðã sắp đến ngày kỷ niệm, nhưng Ban lảnh đạo Unesco vẫn chưa dứt khoát lại còn gây sức ép thuyết phục ta đồng ý tổ chức kỷ niệm ở bên ngoài trụ sở Unesco vơí lý do nhiều ý kiến phản đối. Với thái độ kiên quyết của phía ta lãnh đạo Unesco chấp nhận một thỏa hiệp: bỏ một vài hoạt động hình thức tuyên truyền chánh trị, không treo ảnh bác trong hội trường, trong triển lãm ảnh bác ở hành lang Unesco, trong giấy mời phải ghi là đến xem văn nghệ, ..
Ba ngày trước lễ kỷ niệm, tình hình lại không diễn ra như ta mong muốn.Tổng Thư ký Unesco mời đại diện phía ta đến gặp và yêu cầu hoãn lễ kỷ niệm với lý do ta không giử đúng lời hứa vì trong giấy mời có in hình bác và ghi "Nhơn dịp kỷ niệm 100 ngày sanh HCM, danh nhơn thế giới" (Ðúng là VẸM). .. Cuối cùng ta trả lời với ông Tổng Thư ký là đã thay đổi ... Tuy nhiên ta cho in 100 giấy mời mới thôi (để mời người ngoại quốc) còn giấy cũ gởi cho Liên hiệp Việt kiều yêu nước - hội ngoại vi của Hà nội - phân phối.
Về phần nội dung buổi lễ ta có thay đổi chút ít. Ðồng chí Ðại sứ của ta không đọc bài diển văn đã dọn sẳn mà thay vào đó Ðồng chí Nguyễn Kinh Tài, Ðại sứ bên cạnh Unesco đọc bài diển văn ngắn nói về ý nghĩa lễ kỷ niệm, đọc Quyết định của Ðại Hội đồng Unesco về kỷ niệm 100 ngày sanh của bác. Chủ tịch Hội đồng người Việt tại Pháp (Hội Liên hiệp Việt kiều yêu nước) phát biểu ý kiến về công lao của bác đối với dân tộc và thế giới, cuối cùng là chương trình xem văn nghệ do đoàn cải lương trong nước phục vụ "

(An ninh thế giới - số 177 trang 14 )

Trong phần cuối Văn Chấn khoác loác hôm ấy có đến "2000 người tham dự nhờ các võ sĩ ngăn chận những người đến phá". Sự thật là hôm ấy không quá 70 người tham dự và hoàn toàn không có ai muốn đánh phá và ngăn chận nhóm "Việt kiều yêu nước" tham dự.

Nhận xét:
Buổi lễ 19/5/1990 hoàn toàn do Tòa Ðại sứ Hà nội tại Paris tổ chức trong một căn phòng của Unesco do họ thuê mướn.

Không có đại diện của Unesco và chánh quyền pháp đến dự.

Buổi lễ đã không được thực hiện đúng theo tinh thần Quyết Nghị "Hồ Chí Minh là một danh nhơn thế giới" mà chỉ là một buổi trình diển văn nghệ bình thường. (Ðại sứ Phạm Bình của Hà nội không được quyền đọc diển văn và không được quyền nói về HCM như là một danh nhơn).

Ðảng Cộng sản Việt nam và nhà cầm quỳên Hà nội đã không biết lấy làm xấu hổ về những hành động lật lọng và gian trá của mình đối với một cơ quan văn hóa quốc tế (vụ tráo trở thiệp mời - ct: đừng nghe những gì CS nói .. nhìn những gì CS làm ) mà lại còn khoe khoan đề cao như là một thành tích thắng lợi.

Ðiểm thiếu sót đáng tiếc của Ủy ban Tố cáo tội ác Hồ Chí Minh là đã không quảng bá sâu rộng thành quả tranh đãu là Unesco không thi hành Quyết nghị, bởi nghỉ rằng đã thắng lợi như vậy là đủ rồi.

Do đó mà 10 năm sau, Hà nội mới dám lên tiếng khoe thành tích "bảo vệ" lễ kỷ niệm 100 ngày sanh của HCM.

Hồi Nhơn Sơn 31 tháng 5 năm 2003
Nguyễn Ðông A (một thành viên của Ủy Ban Tố cáo Tội ác Hồ Chí Minh) thuật
Nam Linh Phan Văn Song ghi

(Theo Phù Sa)

(DCV)

TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH

http://www.tiengnoitudodanchu.org/vn/modules.php?name=Forums&file=viewtopic&p=1148

Stéphane Courtois

Stéphane Courtois

Historien (directeur de recherches au CNRS), directeur de la revue Communisme, spécialiste de l'histoire du communisme).



Ancien maoïste (membre entre 1969 et 1971 du groupe Vive la Révolution, un mouvement maoïste spontanéiste dit mao-spontex) il dirige la publication en 1997 d'un ouvrage, Le livre noir du communisme, Robert Laffont, Paris, ouvrage traduit en vingt-cinq langues, qui, après l'effondrement de la Russie soviétique et de ses annexes de l'Europe de l'Est, fait le bilan du communisme au pouvoir (marxisme-léninisme, maoïsme et succédanés), et accuse le système d'avoir causé la mort d'environ 85 millions de personnes, comparant ces victimes avec les environ 15 millions de victimes du nazisme. Ce qui fait scandale. L'argument généralement présenté par les défenseurs du communisme (par exemple M. Lionel Jospin, ancien trotskiste, premier ministre en France de 1997 à 2002) étant que le marxisme est une idéologie du bonheur, qui veut le bonheur de l'humanité toute entière, alors que le nazisme est une idéologie du malheur, raciste et génocidaire.
La suite de l'ouvrage Le Livre noir du communisme est publié en 2002 : Du passé faisons table rase !, Robert Laffont, Paris. L'ouvrage, sans faire autant scandale que le premier, ne désarme pas les intellectuels et militants socialistes, qui demeurent attachés à l'"idéologie du bonheur".
1 Œuvrant dans un pays à la culture démocratique enracinée et aux institutions solides, le PCF n'a certes jamais pu développer au niveau étatique et gouvernemental les potentialités totalitaires que commandaient sa doctrine et son appartenance au mouvement communiste international. Mais ce parti a mis en œuvre en son propre sein des structures et des procédures calquées sur celles instaurées en URSS par Lénine puis Staline Il a propagé une doctrine, une idéologie et une propagande qui étaient au fondement du régime soviétique. Surtout, et c'est finalement la question qui était posée à Lionel Jospin le 12 novembre 1997, le PCF a été, sur les plans politique et moral, complice des crimes de masse commis dans les régimes communistes.
Il a, en effet, soutenu le régime soviétique sans désemparer de 1920 à 1991, à l'exception d'une «réprobation» - vite reprise - lors de l'écrasement du « printemps de Prague » en 1968. N'est-ce pas Georges Marchais qui, depuis Moscou, le 11 janvier 1980, approuvait bruyamment le coup d'État communiste en Afghanistan et son invasion par l'Armée rouge? Chacun sait dans quelle tragédie cette intervention a laissé ce pays.
Le PCF a soutenu jusqu'à la fin les «partis frères» des «démocraties populaires», Georges Marchais donnant encore l'exemple avec ses séjours estivaux répétés dans la Roumanie de Ceausescu ou dans la Bulgarie de Jivkov dont on lira, dans ce même ouvrage, à quel point leurs régimes étaient criminels.
Plus significatif encore, le PCF a appartenu organiquement au système communiste mondial. Dans le cadre du Komintern, de 1920 à 1943, il a été dirigé depuis Moscou par des hommes qui, dans le même temps, fusillaient massivement en mars 1921 les marins rebelles de Kronstadt et exterminaient aux gaz de combat les paysans révoltés de la région de Tambov - comme Lénine, Zinoviev et Trotsky -, ou votaient la mort de Boukharine à la réunion de la Commission spéciale du Comité central du PCUS le 27 février 1937 - comme Manouilski, œil de Staline au sein du Komintern de 1928 à 1943 -, ou encore organisaient la famine en Ukraine en 1932 et signaient des directives et des listes envoyant à la fusillade des centaines de milliers de victimes pendant la Grande Terreur - comme Molotov chef du Komintern de 1929 à 1934 et chef du gouvernement soviétique de 1929 à 1941.
Et c'est bien Staline que Thorez rencontra à plusieurs reprises et longuement, en tête à tête au Kremlin, en particulier les 19 novembre 1944 et 18 novembre 1947. Il y a là des faits historiques innombrables, établis par les archives nouvellement ouvertes, et sur lesquels le PCF n'est guère bavard. Du passé ..., p. 71-72
2 Lionel Jospin répond avec une fougue qui garantit sa sincérité, et une passion qui montre combien il a été impliqué dans cette histoire.
Il souligne d'abord que « le mouvement, commencé en 1917 par une révolution, a joué dans l'histoire de ce siècle un rôle majeur. Il a occupé une place énorme dans nos manuels et mobilisé des millions d'hommes, des intellectuels, des créateurs de notre pays. Il a été une référence dans notre histoire car, au moment où l'Allemagne nazie était notre adversaire, l'Union soviétique, quoi qu'on pense sur la nature de son régime, était notre alliée », et il rappelle que les communistes avaient participé à un gouvernement « issu de la Résistance et dirigé par le général de Gaulle» en 1945, « alors que les crimes de Staline étaient parfaitement connus ».
Puis il enchaine sur la comparaison entre nazisme et communisme: « Je n'ai jamais mis un signe "égal" entre nazisme, communisme ou marxisme. Le nazisme est une doctrine intrinsèquement perverse qui n'a jamais dissimulé sa pratique derrière des affirmations contraires, qui assumait ses théories antisémites, qui assumait ses théories tendant à justifier la domination d'une élite sur une autre. [...] François Furet établit quant à lui une liaison fatale entre le marxisme, le communisme, le léninisme et le stalinisme. [...] D'autres historiens, comme Madeleine Rebérioux, établissent une distinction entre la déviation du stalinisme et l'idéal du communisme ».
Lionel Jospin souligne alors que « jeune étudiant », il a « rompu avec ses tentations quand a été écrasée la révolution démocratique hongroise» et qu'il « appartient à la tradition démocratique du socialisme français ».
Et il conclut dans une belle envolée lyrique: « Si le goulag doit être condamné et le stalinisme totalement rejeté, et si l'on peut penser que le Parti communiste français [...] a trop tardé à dénoncer le stalinisme, il l'a néanmoins fait. [...] Pour moi, le communisme s'inscrit dans le Cartel des gauches, dans le Front populaire, dans les combats de la Résistance, dans les gouvernements tripartites de la gauche en 1945.11 n'a lui-même jamais porté la main sur les libertés. [...] Il a tiré des leçons de son histoire. Il est représenté dans mon gouvernement, et j'en suis fier." Ibidem, p. 69
--------
Les logiques totalitaires en Europe
1 Les trois chapitres consacrés à la nature et aux fonctions de la répression en URSS soulignent le caractère spécifique de celle-ci dans un régime totalitaire. Retraçant la mise en place progressive des dispositifs et institutions répressifs, Dominique Liechtenhan distingue les organes répressifs spécifiques, les camps fondés sur le principe de la «rééducation» et le système pourvoyeur de main-d'œuvre gratuite.
Dès décembre 1917, une police politique fut chargée de réprimer les «ennemis de classe» : adversaires politiques, membres des élites traditionnelles, étrangers indésirables, prisonniers de guerre, mais aussi très vite ouvriers et paysans en révolte. La logique était double: réprimer tous ceux qui apparaissaient comme des menaces immédiates contre le maintien des bolcheviks au pouvoir, mais aussi empêcher à terme l'émergence et la manifestation de la moindre expression d'opposition perçue par le pouvoir comme une menace. D'emblée apparurent des conflits de compétence entre les commissariats du peuple à l'Intérieur, à la Justice et la police politique.
En 1919 fut instauré le principe du camp de concentration où devaient être détenues des «personnes socialement dangereuses», considérées comme des parasites dont la nouvelle société devait se débarrasser. Puis apparurent les camps de travail forcé destinés à transformer les détenus en citoyens modèles selon le slogan « Le pouvoir soviétique ne punit pas, il réforme ». Ce travail forcé fut bientôt orienté vers des régions inhospitalières mais riches en ressources naturelles, et donc appelées à être « colonisées » par une main-d'œuvre gratuite ou à très bon marché.
C'est ainsi que rapidement la police politique, outre ses fonctions répressives, fut chargée de fonctions de production, soulignant la logique étroite qui liait le principe de l'économie planifiée et administrée et le travail forcé. Le symbole le plus éclatant de cette relation fut Feliks Dzerjinski qui, au milieu des années 1920, était simultanément le chef d'une police politique qui à la fois exterminait impitoyablement les ennemis du régime et prétendait rééduquer les autres par le travail, mais aussi le responsable des transports puis de l'économie nationale - et en particulier du développement de l'industrie lourde -, et enfin le responsable de la politique de la main-d'œuvre par la mobilisation du travail à travers le développement du travail forcé.
Dès ce moment, le système pénitentiaire devenait le principal élément régulateur du travail et, lorsqu'il décida de relancer la révolution communiste, avec le premier plan quinquennal et la collectivisation des terres, Staline n'eut plus qu'à développer et systématiser le dispositif. Fut ainsi créé en URSS un monde concentrationnaire qui toucha en un quart de siècle environ 15 millions de citoyens soviétiques, surtout des hommes, et imprima une marque indélébile sur la mentalité générale des populations. Les logiques totalitaires, Avant-propos, p. 25-26
2 Il est vrai que dès septembre 1917, le leader bolchevique insistait fortement sur un principe-slogan: «Celui qui ne travaille pas ne mange pas » qui visera bientôt toute personne considérée par le régime comme ennemie. Dès 1917-1918, dans une période de pénurie alimentaire généralisée, la faim deviendra une arme revendiquée par les bolcheviks pour réduire à merci des groupes sociaux les paysans - ou nationaux - les Ukrainiens.
L'URSS a connu à nouveau de grandes famines en 1931-1933. La première a touché le Kazakhstan, tuant durant ces deux années plus de 1 100 000 personnes sur une population de 6,5 millions ; elle semble avoir été le résultat non souhaité mais inévitable de la destruction des modes de vie et de production de populations nomades par une collectivisation-sédentarisation forcée qui répondait à la logique du projet communiste.
La seconde famine, en 19321933, visa plus particulièrement les populations ukrainiennes. Elle répondait à plusieurs logiques du pouvoir totalitaire. À très court terme, elle visait à réquisitionner un maximum de la récolte afin de constituer des réserves alimentaires stratégiques au niveau central et de nourrir les villes, cœur du pouvoir. À court terme, le pouvoir retira de ces surplus alimentaires les devises dont il avait besoin pour financer l'industrialisation lourde accélérée qui seule permettrait de constituer une armée moderne et mécanisée, principal moyen de force du régime tant pour sa protection que pour son éventuelle expansion. À moyen terme, l'opération visait à exterminer par la faim - mais aussi par les fusillades massives, les déportations au goulag et l'envoi comme « colons spéciaux » -, les élites paysannes ukrainiennes. Il s'agissait de casser la colonne vertébrale de la classe paysanne afin de la contraindre à entrer dans les kolkhozes, à accepter une agriculture collectivisée et à se soumettre à une sorte de nouveau servage, et en même temps de provoquer une importante fuite des paysans vers les villes et les grands chantiers où ils constitueront une main-d'œuvre corvéable et peu exigeante. Mais à plus long terme, Staline poursuivait la réalisation du projet totalitaire de création d'un homme nouveau soviétique, qui ne pouvait qu'être contrariée par les velléités d'autonomie culturelle et politique enracinées dans le socle de la paysannerie ukrainienne. En l'occurrence, la faim est à la fois une arme contre une classe et un peuple, et un outil de l'ingénierie sociétale totalitaire. Ibidem, pp. 27-28
3 Pour sa part, le communisme chinois, sous l'impulsion de Mao Zedong, a adopté très tôt les méthodes terroristes les plus radicales, bien avant la conquête du pouvoir d'État en 1949. Il a provoqué en Chine des tragédies à la hauteur de l'importance de la population, avec plus de 70 millions de victimes, dont environ 38 millions rien que pour la famine du « Grand Bond en avant » de 1959-1962 provoquée par les mêmes raisons de fond que celle de 1932-1933 en Ukraine - la volonté de se procurer à n'importe quel coût humain des devises par la vente des récoltes de céréales, afin de financer de gigantesques plans d'armement destinés à assurer la suprématie mondiale d'une Chine totalitaire. Il est vrai que dans le cas chinois, le phénomène a été considérablement aggravé par la mégalomanie du leader charismatique et son manque total de réalisme politique.
Cette logique a trouvé son aboutissement chez le meilleur élève de la classe maoïste, Pol Pot - encore plus mégalomane et irréaliste que son mentor - qui, le jour même de la prise de Phnom Penh par les Khmers rouges, a engagé une gigantesque opération d'ingénierie sociétale aboutissant en trois ans et demi à l'assassinat ou à la mort de faim de près du quart de la population. Pris dans la logique de la surenchère révolutionnaire, Pol Pot légitimait son action par l'affirmation que son communisme était encore plus authentique que celui de Mao.
Bien entendu, on remarque nombre de similitudes entre les logiques de la terreur soviétique et celles du nazisme. Même création d'une police politique de plus en plus puissante - même si la Gestapo, avec quelques milliers d'agents en 1939, reste nettement en deçà de la puissance du NKVD qui, à la même date, en compte plusieurs centaines de milliers. Même accent initial mis sur l'élimination de ceux qui sont considérés comme des adversaires politiques immédiats ou potentiels, même si, avant guerre, l'Allemagne nazie est très en retrait, avec environ 9 000 assassinats politiques de 1933 à 1939, contre plus de dix millions en URSS. Même instauration des camps et de la « rééducation » ou de l'extermination par le travail forcé, même si en 1939 les camps nazis comptent moins de 50 000 concentrationnaires contre 1,5 million dans les camps soviétiques.
Même tentative de réalisation de l'utopie totalitaire d'une société pure - racialement chez les nazis, socialement et nationalement homogène chez les Soviétiques - par la mise en œuvre d'une ingénierie sociétale, même si le régime nazi se contenta, jusqu'en 1939, d'une stigmatisation-discrimination-spoliation-persécution des Juifs, alors que le régime soviétique était passé depuis ses débuts à la phase d'extermination des « ennemis de classe », fortement intensifiée à partir de 1929-1930. Ibidem, pp. 29-30

http://www.denistouret.net/textes/Courtois.html

Stéphane Courtois qualifie d'« initiative très importante » l'audition de l'Assemblée parlementaire sur les crimes du communisme

Stéphane Courtois qualifie d'« initiative très importante » l'audition de l'Assemblée parlementaire sur les crimes du communisme


Invité à s'exprimer lors d'une audition de la Commission des affaires politiques de l'APCE, mardi 14 décembre à Paris, Stéphane Courtois, principal auteur du "Livre Noir du Communisme" (1997), salue la volonté des députés de l'Assemblée de "condamner le totalitarisme communiste au niveau international".

Interview 14.12.2004

Question : Vous avez été invité aujourd’hui à prendre la parole au cours d’une audition de l’APCE, à Paris, sur les crimes du communisme. En tant qu’auteur principal du « Livre noir du commisme » (1997), que pensez-vous de l’initiative présentée par plusieurs députés de l’APCE visant à la « condamnation du communisme totalitaire au niveau international » ?

Stéphane Courtois: Mieux vaut tard que jamais. Etant donné les circonstances dans lesquelles les régimes communistes se sont effondrés sur eux-mêmes, il n’y a pas eu l’équivalent d’un procès de Nuremberg, ni même de procès nationaux dans les pays concernés. Pour la plupart des faits incriminés, les auteurs sont morts depuis longtemps. La voie de la justice est donc éteinte. Et pourtant, il serait désastreux que toute la dimension criminelle du communisme soit évacuée.
On ne peut pas tourner la page comme s’il ne s’était rien passé, alors qu’il reste des cicatrices énormes de cette période, à commencer par la coupure en deux de l’Europe, pendant cinquante ans.

Il est donc important qu’il y ait une prise de position publique par des élus de différents pays, pour que ces crimes soient évoqués clairement au tribunal de l’histoire. L’Europe est actuellement dans un processus de réunification politique, économique, juridique. Il reste cependant une dimension cruciale à atteindre: la réunification affective.

Il faut que les Européens de l’Est aient le sentiment d’être accueillis dans « leur » Europe. Ce n’est pas encore le cas. Les Européens de l’Ouest doivent prendre conscience que s’ils ont vécu dans la paix et la prospérité pendant cinquante ans, c’est parce qu’on a sacrifié à Staline les Européens de l’Est en 1945.

Il faut que le travail des historiens soit relayé par des hommes publics. Cette initiative du Conseil de l’Europe est donc très importante, d’autant plus qu’elle est largement initiée par des députés d’Europe de l’Est, qui –eux-, savent de quoi il retourne. Car que ce soit en Pologne ou dans les pays baltes, partout les gens sont très inquiets de la situation en Russie : avec le retour au pouvoir d’anciens responsables du KGB, beaucoup de gens s’interrogent : est-ce que la Russie a vraiment pris le chemin de la démocratie ?

Question : Le soviétologue Alain Blum parlait justement, récemment, d’un « retour du soviétisme » en Russie. Cette analyse vous paraît-elle pertinente, et s’applique-t-elle également à la façon dont la Russie aborde sa propre histoire ?

Stéphane Courtois : En Russie, le climat est très nettement au blocage général du travail d’histoire et de mémoire. Quantités d’archives qui avaient été ouvertes au début des années 90 ont été refermées entre-temps. En Russie, les historiens très courageux qui travaillent sur les crimes du communisme ont les plus grandes difficultés à travailler.

Les responsables d’une association comme « Mémorial », très engagés dans ces recherches, sont victimes d’intimidations permanentes et de pressions multiples. Ils mériteraient d’avoir leur nom et leur photo dans la presse d’Europe occidentale, ce qui n’est pas le cas.

Le communisme comme système s’estr effondré, mais les communistes, eux, sont toujours là. Les 700.000 anciens salariés du KGB sont toujours influents. L’un d’entre eux, Vladimir Poutine, est à la tête de l’Etat. Comme on a vu à l’occasion de différentes affaires (la prise d’otages du théâtre de Moscou, Beslan, l’Ukraine), la Russie continue à se penser comme du temps de l’Union soviétique. Par ailleurs, le milieu des historiens contemporains en Russie a toujours été entièrement contrôlé par les apparatchiks du Parti. Le milieu des historiens contemporains est quasi inexistant. Or on ne forme pas des historiens en cinq minutes, il faut au moins dix à quinze ans.

Aujourd’hui, lors de l’audition de l’APCE, un représentant des historiens russes a tenu un discours hallucinant, disant qu’il ne fallait pas rouvrir les pages de la guerre froide ni ouvrir une « chasse aux sorcières », soulignant que le communisme en tant que tel n’avait pas été responsable des dérives du stalinisme et qu’on avait « trahi le bel idéal de Lénine ». C’est le même discours qu’on nous sert depuis 80 ans.

Question : Est-ce qu’une référence plus nette aux crimes du communisme aurait dû être inscrite dans la Constitution européenne ? Celle-ci se contente de faire allusion aux « expériences douloureuses » du passé, sans plus de précisions…
Stéphane Courtois : Cette Constitution aurait dû faire une allusion aux trois totalitarismes qui ont fracassé l’Europe dans les années 30 et 40 (le nazisme, le fascisme, le communisme). C’est très dommage que cela n'ait pas été le cas.

Cependant les choses avancent depuis 1997, date à laquelle nous avons publié le « Livre noir du communisme ». Certes, en Russie, en Bulgarie, et en Serbie, cela reste très difficile. Mais un gros travail est fait en Pologne ou dans les pays baltes. En Roumanie, peut-être l’élection d’un nouveau président va-t-elle faire avancer le débat.


------

Le livre noir du Parti Communiste, crimes, terreur, répression, par Stéphane Courtois, Nicolas Werth, Jean-Louis Panné, Andrzej Paczkowski, Karel Bartosek, Jean-Louis Margolin, Collection " Bouquins ", Ed. Robert Laffont.Ouvrage de référence, " La Bible " sur la question.
http://www.coe.int/T/F/Com/Dossiers/Interviews/20041214_interv_courtois.asp http://www.coe.int/T/E/Com/Files/Interviews/20041214_interv_courtois.asp
http://users.skynet.be/roger.romain/biographiesC.html
http://users.skynet.be/roger.romain/staline_soljenitsine_15_01_2004.htm
http://livres.lexpress.fr/entretien.asp/idC=5239/idR=5/idTC=4/idG=0

TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH

TỔ CHỨC UNESCO KHÔNG VINH DANH HỒ CHÍ MINH
Trần Gia Phụng


Theo tài liệu được đưa lên Internet vào cuối tháng 5-2005 của tiến sĩ Phan Văn Song, hiện cư ngụ tại Paris, thì vào năm 1987, do sự vận động của nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và những thành phần thiên tả trong UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc), ông Hồ Chí Minh(1890-1969) được đề cử vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới” của tổ chức UNESCO, nhân dịp kỷ niệm một trăm năm sinh niên nhà chính trị nầy (1990). Lúc đó, Tổng giám đốc UNESCO là ông M’Bow, người Phi Châu.

Quyết định đề cử Hồ Chí Minh vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới” bị cộng đồng người Việt hải ngoại phản đối khắp nơi trên thế giới. Riêng tại Paris, nơi đặt trụ sở của UNESCO, Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh được thành lập, do ông Nguyễn Văn Trần làm Tổng thư ký. Uỷ ban nầy đã hoạt động tích cực như sau:

1) Vận động người Việt và báo chí Việt ngữ ở hải ngoại (Bắc Mỹ, Úc Châu, Âu Châu, Nhật Bản) viết thư cho UNESCO vạch trần tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản trong nước, đồng thời phản đối việc đề cử Hồ Chí Minh vào danh sách danh nhân văn hóa thế giới. Ý kiến phản đối lên đến khoảng 20,000 thư, đều được Giám đốc phụ trách vùng Đông Nam Á của UNESCO chuyển cho Đại diện của Hà Nội tại UNESCO. Ngoài ra, có người còn viết sách tố cáo ông Hồ đã ăn cắp thơ (đạo thơ) của người khác làm thơ của mình trong sách Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù). (Lê Hữu Mục, Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật ký”, Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Canada, 1990.)

2) Liên lạc và kêu gọi Uỷ Ban Tương Trợ Việt-Miên-Lào và Hội Cựu Chiến Binh Đông Dương lên tiếng tố cáo Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đã vi phạm nhân quyền đối với tù binh Pháp sau chiến tranh Đông Dương. 3) Liên hệ với Thị xã Paris và một số dân biểu, nghị sĩ Pháp để đề nghị họ đưa vấn đề ra trước Quốc hội Pháp, nhắm yêu cầu chính phủ Pháp có ý kiến với UNESCO về đề nghị vinh danh HCM, vì trụ sở của tổ chức nầy đặt tại Paris.

Trong lúc cuộc vận động đang diễn tiến, thì vào cuối thập niên 80, có ba sự kiện quan trọng xảy ra:

1) Trong nội bộ UNESCO, ông tổng thư ký M’Bow, thôi giữ chức tổng giám đốc, và ông Frédéric Mayer, người Tây Ban Nha đắc cử chức Tổng giám đốc. Ông Mayer không ủng hộ nhóm thiên tả, và không ủng hộ việc đề cử Hồ Chí Minh vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới”.

2) Tại Việt Nam, số người vượt biên càng ngày càng cao. Từ năm 1975 đến năm 1989 (trước thời điểm Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc ra lệnh khóa sổ các trại tỵ nạn, không nhận người vượt biên), số người vượt biên đến được nơi tạm dung lên đến khoảng 900,000 người, không kể số người tử nạn trên đường vượt biên.(theo thống kê do Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 2000, được nhà báo Giao Chỉ ghi lại trong bài “Lịch sử 30 năm định cư tỵ nạn 1975-2005”, nhật báo Người Việt Online, ngày 1-4-2005.)

3) Các nước cộng sản Đông Âu bắt đầu lung lay và sụp đổ từ cuối năm 1989.


Cuộc vận động của Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh, phản ứng của Cộng đồng người Việt khắp thế giới, và ba sự kiện trên đây đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến UNESCO và cuối cùng UNESCO quyết định không thi hành việc đề cử Hồ Chí Minh vào “Danh sách danh nhân văn hóa thế giới”. UNESCO cũng thông báo cho nhà cầm quyền Hà Nội biết, đại để như sau:

- UNESCO không tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm sinh niên của Hồ Chí Minh tại Paris, cũng thư tại Hà Nội.

- Thuận cho Tòa Đại sứ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Paris thuê một phòng tại trụ sở UNESCO để tự tổ chức, nhưng UNESCO không cử đại diện tham dự lễ.

- Trong buổi lễ, ban Tổ chức không được tuyên truyền rằng UNESCO đã đề cao Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới, không được treo ảnh Hồ Chí Minh trong hội trường.

- Thiệp mời chỉ được ghi là “tham dự buổi văn nghệ”.


Tuy UNESCO quy định như vậy, nhưng theo cung cách cộng sản, tòa Đại sứ CHXHCNVN vẫn lén lút làm giấy mời có nội dung vinh danh Hồ Chí Minh để gởi cho người Việt, còn in 100 giấy mời chính thức đề là “tham dự buổi văn nghệ” để gởi người ngoại quốc, nhắm tránh bị UNESCO khiển trách.

Trong cuộc nói chuyện trước Cộng đồng Việt Nam tại Montreal, vào ngày Chủ nhật 25-4-2004, bác sĩ Nguyễn Ngọc Qùy, một nhà hoạt động chính trị kỳ cựu tại Paris, đã cho biết rằng sau khi UNESCO quyết định như trên, để vớt vát, tòa Đại sứ CHXHCNVN tại Paris đã thuê một phòng tại trụ sở UNESCO ở Paris để tổ chức buổi trình diễn văn nghệ vào ngày 12-5-1989, đúng một tuần lễ trước sinh nhật của Hồ Chí Minh. Trong buổi trình diễn văn nghệ nầy, có khoảng 70 người hiện diện, bao gồm cả ban tổ chức và nhóm “Việt kiều Yêu nước” là tổ chức do CSVN lập ra. UNESCO và Pháp không cử đại diện đến dự. Chỉ có hai nước gởi người đến tham dự là Cambodia và Lào.

Trong buổi trình diễn văn nghệ nầy, ông Đại sứ CHXHCNVN tại Pháp là Phạm Bình không đọc diễn văn, mà chỉ có ông Nguyễn Kinh Tài, đại diện CHXHCNVN tại UNESCO đọc bài viết ngắn về ý nghĩa buổi lễ, ca tụng sự nghiệp của Hồ Chí Minh, nhưng theo đúng tinh thần quyết định sau cùng của UNESCO, là không đề cập gì đến vấn đề danh nhân văn hóa thế giới.

Trong lúc đó, trong khi phí CSVN đang trình diễn văn nghệ, thì phái đoàn của Uỷ Ban Quốc Tế Trần Văn Bá do ông Trần Văn Tòng, Chủ tịch UBQTTVB, cùng với các học giả Olivier Todd, Jean Francois Revel, thành viên sáng lập UBQTTVB và bà Anne Marie Goussard, Tổng thư ký Hội Quốc tế Nhân quyền, đến gặp ban Giám đốc UNESCO để hỏi rõ mục đích và ý nghĩa của buổi sinh hoạt văn nghệ nầy tại một phòng họp của UNESCO.

Đại diện UNESCO xác nhận với phái đoàn Uỷ ban Quốc tế Trần Văn Bá rằng, đây là buổi văn nghệ do Tòa Đại sứ CHXHCNVN tổ chức, chứ không phải là lễ vinh danh Hồ Chí Minh của UNESCO. Sau khi ban Giám đốc UNESCO xác nhận như trên, trong cuộc họp của Uỷ ban Quốc tế Trần Văn Bá tại trung tâm Maubert Mutualité (Paris 5ème) vào lúc 6 giờ chiều cùng ngày 12-5-1989, ông Olivier Todd đã lên diễn đàn tường trình lại cuộc tiếp xúc với Ban Giám đốc UNESCO. Trong khi tường trình, ít nhất ông Olivier Todd đã hai lần nói rõ rằng Ban Giám đốc UNESCO xác nhận rằng UNESCO không tổ chức vinh danh Hồ Chí Minh, và cũng cho biết buổi trình diễn văn nghệ nhân kỷ niệm một trăm năm sinh niên Hồ Chí Minh vào chiều hôm đó, là do sáng kiến của Tòa Đại sứ CHXHCNVN mà thôi.

Sự kiện UNESCO không tổ chức lễ vinh danh Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới là thành quả của những vận động của cộng đồng Việt Nam hải ngoại và nhất là Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh tại Paris. Điều nầy cho thấy cộng đồng người Việt hải ngoại là một đối lực chính trị quan trọng đối với chế độ cộng sản hiện nay ở trong nước. Chỉ tiếc là sau khi thành công trong việc vận động UNESCO không thi hành việc vinh danh Hồ Chí Minh, cộng đồng người Việt hải ngoại và Uỷ Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh không trình thuật toàn bộ nội vụ và kết quả, thật rõ ràng và thật rộng rãi trên khắp thế giới, để tránh việc tuyên truyền mờ ám và đánh lận con đen của CSVN.

Như thế, tổ chức UNESCO chưa bao giờ vinh danh Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới. Đó là sự thật của câu chuyện được các người tham dự tại chỗ kể lại. Nếu ai chưa tin, thì có thể liên lạc thẳng với những người trong cuộc, đã từng chứng kiến tại chỗ việc nầy, hiện còn sống ở Paris để hỏi cho rõ. Ngoài ra, hồ sơ của UNESCO vẫn còn đó, rộng mở cho tất cả những nhà nghiên cứu, kể cả những nhà nghiên cứu của CHXHCNVN. Thời đại nầy là thời đại khoa học kỹ thuật thông tin tiến bộ, mọi dữ kiện đều được ghi nhận cụ thể, nên mọi người có thể sưu tra dễ dàng trong các văn khố, nhất là những nguồn tin không thuộc loại bí mật quốc gia như việc vinh danh một nhà hoạt động chính trị, chẳng cần gì phải để thời hạn lâu ngày mới công bố.


Nói thêm cho rõ: Nếu UNESCO quả thật có vinh danh ông Hồ Chí Minh, thì phải có văn bản vinh danh cụ thể, chứ không phải bằng lời nói suông. Trong trường hợp đó, chắc chắn nhà nước CHXHCNVN sẽ tổ chức lễ tiếp nhận văn bản nầy rất long trọng, chứ không im tiếng như lâu nay, và chắc chắn nhà cầm quyền CHXHCNVN sẽ làm ảnh sao (photocopy) văn bản nầy, công bố lên khắp mạng lưới thông tin toàn cầu để thu phục lòng người khắp trên thế giới. Hơn nữa, ảnh sao nầy sẽ được treo khắp hang cùng ngõ hẻm tại Việt Nam, kể cả bắt treo kèm với hình ông Hồ tại nhà của mỗi người dân. Người Việt Nam còn nhớ rõ, mỗi khi một di tích ở Việt Nam được UNESCO thừa nhận là di sản văn hóa thế giới như Mỹ Sơn (Quảng Nam), cổ thành Huế, Vịnh Hạ Long..., nhà nước CHXHCNVN đã làm lễ đón nhận sắc bằng của UNESCO ồn ào cờ trống suốt cả tháng trời, quảng cáo khắp thế giới, huống gì là chuyện ông Hồ.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

---
Tài liệu liên quan:
- Nghi viên Thượng viện Pháp chất vấn chính phủ v/v Unesco định tổ chức vinh danh HCM- Nghi viên Thượng viện Pháp chất vấn chính phủ v/v Unesco định tổ chức vinh danh HCM (2)
- UNESCO. General Conference; 24th; 1987 - pdf - us
- UNESCO. General Conference; 24th; 1987 - pdf - fre
- Records of the General Conference, 24th session, Paris, 20 October to 20 November 1987, v. 1: Resolutions Actes de la Conférence générale, vingt-quatrième session, Paris, 20 octobre-20 novembre 1987, v. 1: Résolutions:
http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000769/076995f.pdf
- Revised provisional agenda as prepared by the Executive Board at its 126th and 127th sessions (126 EX/Decision 6.1 and 127 EX/Decision 6.1) 14 p.; 24 C/1 PROV. REV. :
http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000752/075222fo.pdf
- Organization of the work of the twenty-fourth session of the General Conference :
http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000752/075227fo.pdf
- Records of the General Conference, 24th session, Paris, 20 October to 20 November 1987; v. 3: Proceedings Publ Year: 1988Imprint: Paris, UNESCO, 1988Actes de la Conférence générale, vingt-quatrième session, Paris, 20 octobre-20 novembre 1987, v. 3: Comptes rendus des débats; Actas de la Conferencia General, vigésima cuarta reunión, París, 20 de octubre-20 de noviembre de 1987, v. 3: Actes literales Conference: UNESCO. General Conference Meeting session: 24th
http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000770/077024mo.pdf (139M0)

Trích: Unesco chia ra từng nhóm nhỏ. Những nước XHCN đã đề nghị như sau:

"page 134 224 C/COM.I/DR.6 -
Viet Nam, Angola, German democratic Republic, Byelo-Rusian SSR, Bulgaria, Cuba, India,Poland, czechoslovakia, Ukrainia SSR, USR, Democratic Yemen, Congo - proposes that Unesco asociate itself with the commemoration of the 100th anniversary of the birth of Ho Chi Minh, 28 October 1987, 2 pages"Họp thứ 24 ngày 20/10/1987 đến 20/11/1987 :

Cuộc họp quyết nghị:
- ghi nhận (noter) thông báo của Việt nam; - khuyến cáo ( recommander) các nước hội viên tham gia kỷ niệm; - yêu cầu (prier) Ngài Tổng giám đốc UNESCO ủng hộ (soutenir) việc kỷ niệm, Mời (inviter) những chính khách, tổ chức chính trị.Giám đốc Unesco, Hội đồng và chính phủ Pháp KHÔNG ủng hộ, và không thực thi đề nghị này, cấm và không đứng ra tổ chức buổi lễ "vinh danh" HCM !!
(Unesco Không có SOUTENIR, không có Inviter ai cả )
- Approved Programme and budget for 1988-1989
Publ Year: 1988
Collation: (556 p. in various pagings)
Original Language: EnglishOther Lang. versions: Arabic; Chinese; French; Russian; Spanish Conference: UNESCO.
General Conference Meeting session: 24th session
Meetings (date): 1987
Document code: 24 C/5 APPROVED
fre/search_form http://unesdoc.unesco.org/ulis/search_form.html
Tải xuống - download - pdf
- UNESCO. General Conference; 24th; 1987 :
Tải xuống - download - us - pdf
Tải xuống - download - fre - pdf (hcm - p152)

----------
- Diễn biến vụ việc Unesco không vinh danh HCM: tim hieu them tren NET
- benxua: hcm
- Văn Hóa Hồ Chí Minh
----------

- GIẢI TỎA HÀO QUANG ĐẢNG CỘNG SẢN
- Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
- Les vingt-et-une conditions d'admission des Partis... ( 21 điều kiện để vào CS quốc tế III)

Le stalinisme

Le stalinisme

L'URSS de Staline est un des thèmes étudiés dans la première partie du programme d'histoire de 3e intitulée «Guerres, démocratie et totalitarisme».
Objet d'interrogation et de débat passionné le stalinisme est, depuis le début des années 1990, au centre de nombreuses publications consécutives à l'ouverture des archives soviétiques.

Il s'agit ici de faire le point sur les débats en cours, les apports récents de la recherche et de s'interroger sur les concepts au cour de ce thème. La seconde partie de cet article comporte quelques pistes de réflexion pédagogiques pour mettre en ouvre cette séquence de 2 à 3 heures consacrée à l'URSS de Staline dans une classe de 3e.


Plan

1 Le stalinisme : enjeux et débats
1.1 Approche historiographique du sujet
1.2 Le régime stalinien dans les années 1930
1.3 Une «brutalisation» des rapports entre l'Etat et la société.
1.4 «Les formes d'autonomie de la société socialiste» Nicolas Werth[1]

Conclusion : le stalinisme entre mémoire et oubli

2 De la mise au point scientifique à l'enseignement scolaire
2.1 Le concept de totalitarisme : un concept opérationnel ?
2.2 Le régime stalinien au travers des manuels scolaires d'histoire du secondaire
2.3 L'URSS de Staline dans le nouveau programme d'histoire de 3e

Bibliographie

1 Le stalinisme : enjeux et débats

1.1 Approche historiographique du sujet

Maître d'un régime dont son nom est devenu inséparable, Staline dirige l'URSS durant un quart de siècle entre 1928 et 1953.

Le stalinisme a été de tout temps un objet de débat passionné.
J. L Van Regemorter [2] rappelle que la notion de stalinisme, comme trahison au bolchevisme a été élaborée par les Trokystes dés les années 1920.
Il souligne également que contrairement au nazisme et au fascisme qui constituent des doctrines, le stalinisme correspond davantage «à des pratiques ayant pour objectifs la confiscation du pouvoir par Staline au lendemain de la révolution bolchevique».
Depuis les historiens, face à une réalité camouflée et une histoire manipulée, ont cherché à présenter leurs interprétations et leurs explications du système soviétique.

Jusqu'à la fin des années 1960 les principaux historiens de l'URSS, ont fondé leurs études sur le postulat du totalitarisme, privilégiant le pouvoir politique et ses instruments. Leurs analyses étaient centrées sur le dictateur, le projet et les réalisations du régime.
Conscients des limites du modèle totalitaire, de nombreux historiens comme Moshe Lewin se penchent, à partir des années 1970, sur les rapports complexes entre le pouvoir et la société soviétique.

En URSS, le passé a longtemps relevé du secret d'Etat. Les historiens ne disposaient que de publications officielles, des témoignages des exilés et des archives de Smolensk [3]. L'ouverture des archives au début des années 1990, consécutive à l'effondrement de l'URSS, est une véritable manne pour les spécialistes. Nicolas Werth parle de véritable «Révolution archivistique». Ces documents souvent inédits permettent aux historiens du stalinisme d'explorer un régime encore mal connu, surtout pour la période après 1945, qui reste un champ d'exploration.

Le renouveau des études sur l'URSS et sur le communisme a donné une nouvelle actualité au débat sur la comparaison entre le nazisme et le communisme. Thème de la journée de l'Institut d'Histoire du Temps Présent en janvier 1997, la démarche comparative est privilégiée par de nombreux ouvrages récents[4] .

Le livre noir du communisme[5], ouvrage sur le communisme et son coût en vie humaine, a déclenché une vaste polémique à sa parution. Certains lui ont reproché d'avoir fait une comparaison trop hâtive entre les crimes communistes et nazis.
Toutefois, des historiens comme Philippe de Burrin pensent que la démarche comparative garde toute sa légitimité à condition qu'elle soit faite avec rigueur. Dans un article de la revue L'Histoire, [6] l'auteur qualifie la réflexion sur les régimes d'Hitler et de Staline de «légitime et utile». Cette étude ne doit pas, selon lui, «se laisser arrêter par l'existence [.]de différences comme l'opposition des idéologies et les divergences de politiques. » Il souligne également le parallélisme saisissant entre le débat historique sur les deux régimes au cours des vingt dernières années tout en reconnaissant que «cette parenté laisse intacte [.] les spécificités qu'il importe de cerner pour l'intelligence des phénomènes».

Car comme l'écrivent Moshe Lewin et Ian Kershaw «la terreur stalinienne n'a pas besoin d'être minimisée pour souligner l'unicité de l'Holocauste bien que le tribut en vies humaines [ait été] immense» sous le régime stalinien[7].

L'ouvrage Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparée, sous la direction d'Henry Rousso, dont s'inspire largement cet article, opte pour cette démarche comparative. Le livre se présente sous la forme d'exposés parallèles qui partagent toutefois «une même perspective et procèdent à une articulation commune » (p.41). Les chapitres rédigés par Nicolas Werth, spécialiste de l'URSS, offre «un bilan d'étape» et apportent de nouveaux éclairages sur la nature et le fonctionnement du régime stalinien dans les années 1930, les rapports entre l'Etat et la société soviétique et leurs interactions.


1.2 Le régime stalinien dans les années 1930

· Nature et fonctionnement du régime stalinien

Staline a fait l'objet d'un nombre important de biographies fondées notamment sur une approche psycho-historique expliquant notamment les excès du régime par les motivations paranoïaques du dictateur. En réaction, apparaît dans les années 1980 une approche dite
révisionniste autour de la question de la toute puissance ou la «faiblesse» de Staline.
Est alors dressé le portrait d'un "Staline faible" ballotté entre les factions et n'ayant pas à sa disposition les instruments pour faire appliquer ses décisions jusqu'à la fin des années 1930.

Dépassant ce débat, N. Werth s'appuie sur les nouvelles sources (archives des instances du Parti, correspondance des élites dirigeantes, archives de l'administration soviétique) pour évaluer la place et le rôle du dictateur dans son système et étudier le processus décisionnel en identifiant l'empreinte de Staline. Il s'attache aussi à cerner le degré d'autonomie des différents acteurs politiques et tente de faire la part entre le projet politique et les dysfonctionnements du système.
Ce sont les fortes tensions entre deux formes d'organisation et deux logiques du pouvoir dans l'URSS des années 1930 qui expliqueraient, selon lui, la dérive policière et despotique du régime. La «logique de clan» imposée par Staline et les hauts dirigeants de l'Etat s'opposerait à la logique «d'un état industriel et moderne, fondée sur la notion de compétence». Cette tension permettrait de comprendre ce que M. Lewin, appelle «l'essence du stalinisme" à savoir «la paranoïa institutionnelle » qu'il définit comme «un sentiment d'impuissance qui se développe dans le cercle étroit des plus hauts dirigeants staliniens puis chez le dirigeant suprême. Plus le pouvoir central se renforce et plus ce sentiment d'impuissance persiste et s'accroît»[8]. Selon cette thèse, ce serait dans un contexte de crise et d'extrême urgence que s'opérerait la mise en place des nouvelles structures économiques du régime dans l'agriculture et l'industrie.

Ces projets donneraient lieu à une prolifération d'administrations, incapables ou réticentes à mettre en place la collectivisation dans les campagnes et de contrôler l'organisation de la production dans les usines.

Ces dysfonctionnements ne pouvant s'expliquer dans la culture bolchevique «que par la mauvaise origine sociale» des cadres, un profond renouvellement de l'élite administrative s'ensuivrait, dans les années 1930, précédé par l'élimination des anciens cadres.
Investis de pouvoirs importants, ces dirigeants régionaux se comporteraient vite en petits «Staline locaux» s'appuyant sur une clientèle.
C'est ce qui expliquerait la méfiance de Staline vis à vis de l'administration, son
interventionnisme croissant et le caractère de plus en plus «conspiratif» des décisions prises à partir de 1934 date à partir de laquelle les réunions plénières du politburo diminuent.
Toujours selon cette thèse c'est la perception du danger de guerre, à partir de l'automne 1936, qui expliquerait l'exacerbation de la logique despotique et policière du régime. La perspective d'une guerre internationale accentuerait cette «paranoïa institutionnelle».


· Une vision renouvelée de la Grande Terreur

Longtemps centré sur la paranoïa de Staline et sur les grands procès publics des bolcheviks, les sources nouvellement accessibles donnent une vision bien documentée de la Grande terreur des années 1937-1938. Les recherches s'orientent désormais vers l'étude du mécanisme de la répression, la sociologie du groupe des victimes et sur "la face conspirative de la Terreur».
Selon N. Werth, la Terreur apparaît comme un processus mise au point au plus haut niveau par Staline et mis en application par le NKVD sous forme d'opérations terroristes secrètes. L'auteur distingue les opérations contre les éléments «socialement dangereux» ou «socialement étrangers» et celles dirigées contre l'élite politique, économique, militaire du pays. La Terreur est suivie d'un renouvellement spectaculaire des cadres.
Contrairement à une idée reçue, la documentation disponible aujourd'hui, montre que les cadres du Parti, de l'économie, les militaires et les membres de l'intelligentsia ne composeraient qu'une petite minorité des personnes exécutées.
La crise que connaît l'encadrement militaire démontre que les effets négatifs de la Terreur l'emportent sur les avantages d'un renouvellement du personnel dévoué à Staline. Toutefois, le système s'est largement adapté, selon l'auteur, «aux perturbations et secousses» et a pu ainsi surmonter l'épreuve de la Seconde Guerre mondiale.
Au total, la Grande Terreur «expression la plus achevée de la paranoïa institutionnelle» déboucherait sur «un renforcement du pouvoir personnel de Staline [.] sur le triomphe de la logique de clan, [.] sur un développement du culte de la personnalité»[9].

Les historiens I. Kershaw et M Lewin ont souligné les différences existantes entre le culte de la personnalité autour d'Hitler et de Staline. Dans le régime stalinien le culte de la personnalité à «une fonction différente de la fonction charismatique qui caractérise le culte du chef dans le système national socialiste »

Le culte est indispensable au pouvoir de Staline et non au fonctionnement du Parti. Conscient de s'être écarté du modèle marxiste-léniniste, Staline y recherche une légitimité historique.

· Permanence ou évolution de l'Etat soviétique sous Staline ?

C'est l'école révisionniste qui, dans les années 1970, a posé la question de la permanence ou de l'évolution de l'Etat soviétique.

J.L. Van Regemorter reprend la distinction, largement admise par les historiens, des formes successives du régime stalinien. Il distingue l'ascension de Staline au pouvoir «lente et imprévisible» puis l'apogée du régime entre les Deux Guerres avec le tournant de 1936 qui marque le début de l'exacerbation de la logique policière et despotique. Le «second stalinisme», débute après la Seconde Guerre mondiale et s'achève à la mort de Staline en 1953.
De nombreux historiens, à l'instar de N. Werth, s'accordent pour reconnaître le fort contraste entre le stalinisme «révolutionnaire» des années 1930 caractérisé par les excès,
l'instabilité et les tensions extrêmes et le «second stalinisme» d'après guerre, «plus conservateur, plus nationaliste, marqué par la résurgence d'aspects archaïques, rétrogrades et régressifs" comme la xénophobie, le chauvinisme «grand russien» et l'antisémitisme.
Selon M. Lewin, c'est la présence «de forces soucieuses de stabilité et de légalité" qui vont permettre après la mort de Staline «de faire évoluer le régime vers un «système de bureaucratie tranquille coiffée par une oligarchie institutionnalisée »(p.76)
Mais cette période reste encore, pour les historiens, un vaste champ d'étude.

Une autre thèse voit dans le stalinisme un développement logique du léninisme. Selon des historiens russes, il faut en effet remonter jusqu'à Lénine pour comprendre la création de l'appareil répressif et la création des goulags. Cet avis est partagé par N.Werth pour qui la terreur est «indissociable du système soviétique»10. Par contre, la dimension criminelle n'est pas «centrale du début à la fin » du système, les massacres de masse ne se situant
«qu'à des moments précis» selon lui.
Contrairement au nazisme, il y aurait donc dans le communisme qui affirme incarner un nouvel humanisme «un décalage entre la doctrine et la réalité».
J.L Van Regemorter11 qualifie cette thèse «d'outrancière» : «même si Lénine a subordonné explicitement la morale à la politique, il l'a toujours fait au nom de la raison d'Etat et non pour assouvir sa vengeance et son ambition : même sous le communisme de guerre il n'a pas imposé de force la collectivisation». Quant au «nombre de victimes de la Terreur en pleine guerre civile.[il] a été sans commune mesure avec les massacres ultérieurs» selon cet auteur

1.3 Une «brutalisation» des rapports entre l'Etat et la société

Dans l'URSS stalinienne, la violence s'est exercée à l'encontre de la société soviétique. N.Werth parle d'une «brutalisation» des rapports entre l'Etat et la société12. L'ampleur et la spécificité de ses «logiques de violence» peuvent être saisies au travers de quelques études parues au début des années 1990.
Un article de la revue L'Histoire, rédigé par N. Werth13, donne la mesure de cette violence.
Des statistiques inédites du Goulag révèlent tout d'abord une population pénale inférieure aux estimations antérieures : le nombre de détenus oscillerait entre 0,5 millions en 1934 et 2,5 millions au début des années 1950. L'apogée du système concentrationnaire se situe au lendemain de la Seconde Guerre mondiale avec l'afflux des prisonniers de guerre soviétique.

Contrairement à une idée répandue, le contingent condamné pour «activisme contre révolutionnaire» ne constitue qu'entre ¼ et 1/3 des détenus.
Les autres prisonniers le plus souvent d'origine populaire sont tombés sous le coup de lois répressives sanctionnant les formes d'insubordination sociale (vol, absentéisme à l'usine.).

A cela il faut ajouter l'expropriation de 25 Millions de foyers paysans sans oublier la question de la famine de 1932-1933. Avec ses 6 millions de morts, cette famine occupe une lourde place dans le bilan de la répression stalinienne. Cette famine constitue une «forme de violence extrême et inédite» selon N. Werth14. Après la spoliation de leurs terres, poursuit l'auteur, «les paysans furent punis pour avoir résisté. Cette punition acheva de transformer en disette une famine. » La qualification de ce crime d'Etat continue de susciter d'âpres discussions.

Massive, la répression stalinienne est donc à géométrie variable avec des niveaux d'intensité fluctuants, des cibles changeantes. Les différentes formes de cette violence sont le reflet des transformations du régime. N. Werth met aussi en lumière un jeu de bascule entre une répression extra-légale (police politique) et légale (tribunaux «ordinaires »).


1.4 «Les formes d'autonomie de la société soviétique » N. Werth 15

Sous le régime stalinien l'absence de résistance de la société soviétique a été longtemps soulignée, l'historiographie fondée sur le postulat du totalitarisme niant l'existence d'une quelconque société civile.
Avec le développement de l'histoire sociale, l'histoire par le bas, les recherches
sur les espaces d'imperméabilité au régime, sur les formes et modalités d'opposition passive ou active se sont multipliées. Dans ce domaine encore largement inexploré, la prudence s'impose et il faut se garder de toute conclusion hâtive.
N. Werth fait le point sur les recherches récentes.
Tout d'abord, l'adhésion populaire au culte de Staline doit être révisée à la baisse.

Les nouvelles sources comme les rapports de la police politique sur l'état du pays et sur «l'esprit public», maniées avec prudence, permettent également de cerner les tensions extrêmes entre le régime soviétique des années 1930 et la société qui oppose une gamme infinie de «résistance», de stratégie de survie, de contournement ou «d'évitement». Reprenant une typologie élaborée par l'historien I. Kershaw, N. Werth distingue des formes de résistance active (émeutes) et une large gamme de formes d'insubordination sociale et de résistance collective : absentéisme, refus de coopérer y compris chez les cadres de l'administration. Il souligne aussi les formes d'autonomie de l'opinion ainsi que la persistance de canaux alternatifs d'information.

L'imperméabilité des cultures se perçoit notamment, selon l'auteur, à la persistance de traditions culturelles comme les fêtes religieuses ou encore au maintien de modèle démographique traditionnel résistant aux tentatives d'homogénéisation du pouvoir politique.

En définitive, conclue N. Werth, ce sont les difficultés du régime à maîtriser une société rétive qui alimentent «la violence d'Etat »16.
Conclusion : Le stalinisme entre mémoire et oubli 17

C'est avec la dénonciation des crimes du régime, sous Khrouchtchev, que la mémoire du stalinisme commence à être réintégrée dans l'expérience collective pour être de nouveau marginalisée à l'époque brejnévienne.

La libéralisation culturelle, consécutive à l'arrivée au pouvoir de Gorbatchev, suscite de nouveau un «puissant besoin de reconstruction de la mémoire historique » dans la société et marque une nouvelle dénonciation de la tragédie stalinienne. Cette fois, elle prend un caractère plus massif et plus radical.

Pourtant depuis le début des années 1990, la Russie post-communiste semble avoir condamné à l'oubli la période stalinienne. La révélation des crimes n'ayant fait qu'approfondir la crise d'identité de la société en ternissant l'image positive de l'URSS.
Cette «amnésie» répond, selon S. Nykel, à un mécanisme comparable au refoulement du nazisme et du fascisme dans les années d'après guerre.

Toutefois un seuil est franchi et si l'oubli imposé par le pouvoir a longtemps empêché la transmission de la mémoire, l'ouverture des archives devrait permettre aux futures générations de s'interroger sur le passé de leurs pays. «Le temps des historiens» ne viendra que lorsque les «tensions émotionnelles s'apaiseront" conclut l'auteur.


2 De la mise au point scientifique à l'enseignement scolaire

L'étude de l'URSS de Staline se situe dans la première partie du nouveau programme d'histoire intitulée «Guerres, démocratie et totalitarisme».

2.1 Le totalitarisme, un concept opérationnel ?

Le concept de totalitarisme est au cour des chapitres sur l'URSS de Staline et l'Allemagne Nazie. Pourtant le classement des régimes fasciste et nazi aux cotés du stalinisme sous ce concept a posé et pose encore problème aux historiens. En voici un bref historique.18

Apparu entre les deux guerres, dans l'Italie fasciste, le concept est repris par les contemporains dans les années 1930 qui établissent des comparaisons entre les trois régimes.
Dans les années 1950, le concept revient au premier plan. Thème de l'ouvrage de la philosophe Hannah Arendt les origines du totalitarisme paru en 1951, il est aussi au cour de la réflexion d'historiens français comme R. Aron.
Mais dans un contexte de Guerre froide, ces ouvrages sont perçus comme obéissant à une finalité politique : l'anticommunisme. L'historien J. Touchard, dans le tome II de son Histoire des idées politiques, en1959 préconise de ne pas utiliser le mot qui aurait «pour effet - et peut être comme but- de masquer les différences qui tiennent à l'essence même des régimes, et de suggérer des rapprochements qui ne sont pas toujours très convaincants». Plus récemment, l'historien anglais, I. Kershaw a souligné les limites de ce modèle théorique qui ne résiste pas à la confrontation avec la réalité.

Didier Musiedlak voit, au travers de ce débat, l'évolution de la recherche historique qui
«plus que sur l'examen d'un modèle» s'oriente, dans une perspective plus pratique, vers l'étude des mécanismes du totalitarisme.

Parallèlement, les accompagnements du programme de 3e(p.9) propose comme itinéraire possible une comparaison entre l'URSS de Staline et l'Allemagne nazie.

Alors que faire ?

Une utilisation prudente du concept de totalitarisme, laissée à l'appréciation de chaque enseignant, peut être conseillée.
Le risque est d'imposer aux élèves, comme allant de soi, un concept controversé qui tend à se banaliser dans le vocabulaire courant et qui cache une interprétation historique. Parler de totalitarisme, c'est postuler que les régimes ont plus de points communs que de différences.

S'il est utile pour penser une réalité globale et pour décrire un phénomène nouveau, son utilisation peut également s'avérer délicate avec des élèves peu enclins à la nuance.
Seule une analyse fine du concept avec les élèves, donc dévoreuse de temps, permettrait d'éviter le piège de la schématisation.

Le «rapprochement» entre l'étude de l'URSS stalinienne et l'Allemagne nazie, proposée par les accompagnements du programme de 3e, reste malgré tout pertinent.
L'historien N.Werth trouve la comparaison «légitime» si on la traite «de manière globale : système de gouvernement, rôle des personnalités, rôle du chef, projet général et évolutions des historiographies19» sur les deux sujets.

Dans une optique pédagogique, cette démarche permet de montrer aux élèves que si les régimes nazi et stalinien sont contemporains et proches par leurs pratiques, les différences existent : c'est l'antisémitisme qui fonde la spécificité du régime nazi.


2.2 Le régime stalinien au travers des manuels d'histoire du secondaire 20

Un article de la revue L'Histoire montre, la vision de l'Union Soviétique, donnée par les manuels de l'enseignement secondaire en France entre les années 1950 et les années 1970.
L'auteur y voit dans ces années de Guerre froide, l'influence de l'idéologie dominante marquée par l'antiaméricanisme, le rejet du capitalisme et une certaine «complaisance vis à vis de l'URSS encore auréolée de sa victoire de Stalingrad et de sa lutte contre le nazisme».

Si les manuels d'histoire donnent alors l'image d'une URSS incarnant les transformations sociales et l'avènement d'un ordre social plus juste, la terreur et la violence de masse passent au second plan et sont évoquées à mot couvert : «Le passage d'une société compartimentée - celle d'avant 1917- à une société sans classe a posé des problèmes difficiles et délicats, nécessitant une série d'adaptation. » (Nathan p166).
Quant aux purges «manifestations inutiles de l'autorité stalinienne, [elles] affaiblissent
l'URSS en dégarnissant les cadres. Elles demeurent cependant un acte superficiel qui impressionne plus l'opinion occidentale que l'opinion russe». Bordas p 200.

Depuis la vision de l'URSS dans les manuels scolaires du secondaire a évolué en tenant compte des inflexions de la recherche.

2.3 L'URSS de Staline dans le nouveau programme d'histoire de 3e

Les accompagnements du programme d'histoire de 3e proposent :
· un nouveau découpage chronologique. Contrairement à l'ancien programme d'histoire, l'étude de l'URSS est divisée en deux parties : l'étude des révolutions russes est désormais incluse dans la partie consacrée à la Première Guerre mondiale et ses conséquences. Une séquence de 2 à 3 heures (évaluation comprise ) est prévue pour l'URSS de Staline.
·
§ une étude autour de la problématique suivante : «comment est-on passé de l'espérance de 1917 à la construction d'un régime de type totalitaire ?». Un Etat dont les élèves vont pouvoir suivre, au cours de l'année scolaire, l'évolution de sa naissance (première partie du programme) à son éclatement (seconde partie du programme : de la guerre froide au monde d'aujourd'hui - l'éclatement du monde communiste).

§ Toujours selon les instructions officielles, cette séquence sur l'URSS de Staline est centrée autour de deux axes majeurs :
o la construction de l'Etat soviétique, sa nature et ses pratiques : encadrement, conditionnement des individus, appareil policier et terroriste, culte du chef.

o les transformations radicales des structures économiques (collectivisation, industrialisation) et sociales en soulignant les «mutations sociales et culturelles» que ces orientations ont pu engendrer.


§ Les Instructions Officielles accordent aussi une large place à la violence de masse et à la terreur en réévaluant la place des massacres liés à la dékoulakisation : si les grandes purges «ont été spectaculaires parce qu'elles ont frappé de vieux bolcheviks et des intellectuels, la répression contre la paysannerie [.] a été meurtrière et s'est fait à bas bruit. Les paysans n'ayant pu décrire leur martyre».
La notion de «brutalisation21 » des rapports entre l'Etat et la société trouve donc ici toute sa place. Elle permet de mettre l'accent sur ce mélange inédit de modernisation et de régression des pratiques politiques et sociales (exploitation de la paysannerie, déportations.).


. Bibliographie utilisée pour rédiger cet article :

§ Henry Rousso (sous la direction de). Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparées. Ed Complexes. 1999. Nicolas Werth est l'auteur des chapitres sur l'URRS de Staline.
§ M.Ferro (présenté par) Nazisme et communisme. Deux régimes dans le siècle. Coll. Pluriel. Hachette.
§ N. Werth. Communisme l'heure du bilan. Revue l'Histoire. N°217 janvier 1998.
§ S. Nikel. Ecole : le triomphe de Staline. Revue l'Histoire N° 206 p.46 janv.1997.
§ N. Werth. Goulag les vrais chiffres. Revue l'Histoire N° 169 sept.1993.
§ Numéro spécial de l'Histoire sur "les crimes du communisme". N° 247 octobre 2000
§ J.L Van Regemorter. Le stalinisme. Documentation photographique N° 8003. Juin 1998
§ Jacqueline et Didier Musiedlak. Les totalitarismes. Documentation photographique N°7037. Oct.1996.
Histoire-Géographie. Accompagnements des programmes de 3e.
Christine COLARUOTOLO01/01/2003
mailer("christine.colaruotolo","wanadoo.fr","Stalinisme");

[1] Henry Rousso (sous la direction de). Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparées. Ed Complexes. 1999. Nicolas Werth est l'auteur des chapitres sur l'URRS de Staline.
[2] J.L Van Regemorter. Le stalinisme. Documentation photographique N° 8003. Juin 1998.
[3] Archives de Smolensk : archives saisies par les Allemands lors de leur attaque contre l'URSS en 1941 puis tombées entre les mains des alliés occidentaux.
[4] M. Ferro (présenté par) Nazisme et communisme. Deux régimes dans le siècle. Hachette. Coll Pluriel .1999.
I. Kershaw et M. Lewin (dir.) Stalinism and Nazism. Dictatorships in comparaison. Cambridge University Press. 1997.
A. Bullock Hitler et Staline.Vies parallèles. Ed.Laffont, 1994.
[5] S. Courtois (dir). Le livre noir du communisme. Crimes, terreur, répression. Ed. Laffont. 1997.
[6] P. Burrin. Hitler-Staline : la comparaison est-elle justifiée ? Revue L'Histoire N° 205 Décembre 1996.
[7] Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparée. p. 24.op. cité.
[8] Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparée. p.50.op.cité.
[9] Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparée. p.72 .op.cité.
10 N. Werth. Communisme l'heure du bilan. Revue l'Histoire. N°217 janvier 1998.
11 Le stalinisme. Doc.Photographique. p 20-21.
12 Stalinisme et nazisme. Chap. Logiques de violence dans l'URSS stalinienne.
13 N. Werth. Goulag les vrais chiffres. Revue l'Histoire N° 169 sept.1993.
14 Stalinisme et nazisme. P 101.
15 Stalinisme et nazisme. p146 et suiv.
16 Stalinisme et nazisme.p161.
17 Maria Ferretti. La mémoire refoulée. La Russie devant le passé stalinien dans Nazisme et communisme. Deux régimes dans le siècle.
18 J. et D. Musiedlak. Documentation photographique N° 7037 Octobre 1996.
19 N. Werth. Communisme: l'heure est au bilan. Revue l'Histoire n° 217 p 8 janv. 1998.
20 S. Nikel. Ecole : le triomphe de Staline. Revue l'Histoire n° 206 p.46 janv.1997.
21 Notion mise en évidence par N. Werth dans l'ouvrage Stalinisme et nazisme. Histoire et mémoire comparée. Cf première partie de cet article.
Télécharger au format RTF

http://histgeo.ac-aix-marseille.fr/a/cco/d005.htm

Staline, le tyran rouge
http://www.leblogtvnews.com/article-5726389.html
http://forums.france5.fr/arretsurimages/Presidentielle-des-questions-qui-fachent/staline-m6-sujet_35_2.htm
www.cndp.fr/tice/teledoc/mire/teledoc_tyranrouge.pdf

---------

Nicolas Werth : Histoire de l'URSS
Enjeux historiographiques et débats récents


Conférence pour l'APHG Caen, 15 octobre 1998

Nicolas Werth analyse la période 1917-1953.
L'ouverture des archives apporte d'abord une révolution documentaire.

Elle s'est faite dans une grande désorganisation. De 1990 à 1993, pas de législation, pas de délais de prescription. Tous les chercheurs ont eu accès à des documents postérieurs à 1970, voire à 1980. Certains auteurs ont abusé, à la recherche du sensationnalisme.

Depuis 1993, la législation s'inspire des règles internationales. Mais des problèmes matériels énormes touchent les archives : pas d'argent pour payer le personnel, peu de moyens pour conserver correctement les archives.

Martin Malia, La tragédie soviétique (Le Seuil 1996)
Moshe Lewin La formation du système soviétique Gallimard 1987
Sheila Fitzpartick Stalin's peasants. Survival and Resistance in the Russian Village after Collectivisation, Oxford 1994
John Arch Getty Origins of the Great Purges. The Communist Party reconsidered 1933-1938 Cambridge 1985

Cette ouverture a été précédée de débats théoriques très vifs, surtout dans le monde anglo-saxon.

2 grands courants divisent les études de soviétologie :

- L'école totalitarienne
Ce courant utilise un modèle idéologique : un régime politique monolithique fondé sur une base idéologique, un état tout-puissant exerçant un contrôle absolu sur une société atomisée et devenue docile à la suite d'un endoctrinement massif, un système qui fait régner la terreur, qui veut créer un homme nouveau, et qui cherche à dominer l'ensemble du monde.

Ce schéma néglige les apports de l'histoire sociale, et sous-estime les réactions de la société.
Ses partisans s'intéressent donc plus aux formes du contrôle qu'aux capacités de résistance.

- L'école révisionniste

Les historiens révisionnistes étudient les liens entre le stalinisme et la société. Ils cherchent les marques d'un consensus ( à travers les stratégies d'ascension sociale), soulignent les nuances chronologiques, analysent la "rationalité interne" de phénomènes aberrants comme la Grande Terreur.

Ils prennent pour cible les points faibles d'une vision à la Orwell :
- quand débute le "totalitarisme soviétique" ? 1917 ? fin des années 1920 ?
- quand finit-il ? 1953 ? 1985 ? 1991 ?

Pour H Arendt, il commence dans les années 1920, et se termine à la mort de Staline. La révolution d'octobre 1917 échappe au modèle. CJ Friedrich, ou L Schapiro fondent la permanence du totalitarisme, de Lénine à Brejnev, sur ses dimensions idéologiques et "impériales".

Dans cette vision totalitarienne, l'approche historique est réduite à sa plus simple expression : une analyse politologique du sommet, une kremlinologie présentant un système statique, dont les propriétés s'appliquent aussi au fascisme mussolinien et au nazisme.

Comment un même système a-t-il duré 70 ans alors que 3 ou 4 fois, les paramètres ont changé, ce qui a du avoir des conséquences politiques. Selon le politologue J Hough, "aucune société ne peut se maintenir si les flux sont à sens unique, du sommet vers la base".

L'équivalence "totalitaire" et "monolithique" est aussi contestée. Les administrations sont marquées par des rivalités d'intérêts, des conflits institutionnels, des oppositions entre personnes, des luttes entre centre et périphérie, entre appareil d'état et bureaucratie du parti…

Les "totalitariens" (M Fainsod : Smolensk à l'heure de Staline, Fayard 1965 ; L Schapiro, The origin of Communist Autocraty, Political opposition in the Soviet State, 1917-1922, Cambridge 1955) fondent leur thèse sur l'apothéose du politique, sur l'absence d'autonomie de l'économique et du social. Ils admettent cependant l'existence de nombreuses zones d'autonomie, et parlent d'un "totalitarisme inefficace".

Dysfonctionnements des administrations, inculture des cadres, cheminement tortueux des ordres rendent en partie caduc le postulat central de la thèse totalitaire : l'omnipotence du parti-Etat.

- autonomie de la société ?
Rarement une société n'a été si profondément bouleversée par un projet idéologique de transformation radicale. L'histoire de la période est marquée par un affrontement quasi permanent entre le parti-Etat et la société, avec une volonté d'éradication de classes entières.

La société n'a-t-elle été que le champ d'application d'un projet d'homo sovieticus ? N'a-t-elle pas conservé des mécanismes de défense à travers les structures familiales, communautaires, associatives, nationales ?

Le débat est difficile entre les partisans du monolithisme et de l'ordre comme principes explicatifs du "système soviétique", ignorants des évolutions et des tensions internes, et les "révisionnistes" qui insistent sur les dysfonctionnements, minimisent la terreur comme moment fondateur, et la violence comme mode de résolution des conflits.

3 chantiers principaux

Les racines du stalinisme dans le creuset de la crise 1914-1922 :

Longtemps, les historiens ont limité les liens entre léninisme et stalinisme à des similarités dans les théories.
Les archives montrent le rôle décisif de la guerre civile, la matrice centrale, à travers les formes d'affrontement. Les bolcheviks sont contraints, faut de cadres, de bricoler leur armée, et leur administration avec des cadres de l'Ancien Régime ralliés. Ils s'en méfient. Ils n'ont pas davantage confiance dans des cadres communistes pas toujours compétents.

Il en résulte 2 formes de pouvoir rivales : des clans politiques structuré autour d'un réseau d'allégeances personnelles, des administrations du parti-Etat. La lutte de ces 2 instances de pouvoir est au cœur des affrontements politiques du "stalinisme".

Le nouveau pouvoir ressent une grande partie de la société comme hostile et ingouvernable. Les bolcheviks ont encouragé les excès de la révolution paysanne de l'été et de l'automne 1917. Par la suite, leur lutte contre de larges fractions de la société prend des formes extrêmes : "décosaquisation" (déportations massives), extermination de suspects et d'otages, liquidation des insurrections ouvrières et paysannes...

La Nep sépare ce premier cycle de violence et celui de la période du stalinisme. Entre 1924(mise en place lente et difficile, après 1921) et 1927; la Nep correspond à 3 ou 4 ans de pause, plus qu'à une véritable alternative.

L'accès aux archives des instances dirigeantes permet de comprendre les tensions entre les instances du pouvoir. O Khlevniouk "Le cercle du Kremlin, Staline et le bureau politique dans les années 1930 : les jeux du pouvoir" Le Seuil 1996 montre que Staline domine le pouvoir contre le politburo. Il s'appuie sur une structure de clan, et s'attaque aux administrateurs professionnels.

La centralisation économique a créé un appareil d'Etat de plus en complexe, ramifié et hypertrophié, qui tente de préserver son autonomie. Staline impose un principe despotique, il fait triompher le principe d'allégeance.

Cette lutte de la Grande Terreur tue des hommes et détruit des liens politiques. Elle rebâtit un nouveau mode de gouvernement, et elle favorise l'ascension des "promus du I Plan", la génération des Brejnev, des Souslov (le Politburo des années 1960-1980).

Contrairement à ce qu'affirment les "révisionnistes", l'impulsion du centre, et notamment de celle Staline a toujours été décisive. Des quotas "d'individus à réprimer" étaient fixés au centre ; les dérapages locaux résultaient d'un "supplément" demandé par les autorités locales et "accordé" par Moscou.

Le "second stalinisme", à partir des années 40, est plus nationaliste, pesant et conservateur. Les luttes de clans ne disparaissent pas, et il reste à étudier un certain nombre "d'affaires": Jdanovschina campagne cosmopolite, affaire de Léningrad, affaire de Mingrélie…

Peut-on, pour autant, dire que Staline était un "homme d'appareil" qui aurait bâti une "autorité bureaucratique", foncièrement différente de "l'autorité charismatique" de Hitler (I Kershaw, Retour sur le totalitarisme. Le nazisme et le communisme dans une perspective comparative. Esprit janvier-février 1996).

Je ne le pense pas.

Le mode de gouvernement n'avait rien de purement bureaucratique (cf Moshe Lewin). C'était plutôt une sorte de mélange entre un "enthousiasme bureaucratique" et une parfaite subordination à un parti personnifié par Staline. Le système ne pouvait devenir bureaucratique qu'après la disparition de Staline.

Etat et société : les chantiers de l'histoire sociale.

Longtemps parente pauvre, l'histoire sociale a bénéficié de l'accès à des sources inédites : rapports de la police politique sur l'esprit public, lettres adressées par de simples citoyens...

Plusieurs axes ont été explorés : impact des politiques de terreur, formes de stratification et d'exclusion, formes de résistance, permanence de comportements "non-conformes".

Les archives du Goulag ont permis d'évaluer l'impact des politiques de terreur, et leur permanence : les déportations de groupe sociaux ou ethniques sont une pratique constante de 1930 à 1953, avec des antécédents remontant à 1920-1921.

Les études permettent de cerner les frontières perméables et mouvantes entre univers libre et univers non-libre . Le facteur idéologique s'effaçait souvent derrière des considérations pragmatiques, liée au besoin effréné de main d'œuvre bon marché.

Les formes de résistance sont mieux connues : guerre paysanne de 1929-1932 (A Graziosi, Collectivisation, révoltes paysannes et politiques gouvernementales, Cahiers du monde russe, 3,1995 souligne la continuité avec les insurrections de 1902, 1905-1907, 1917, 1919-1921)

Résistance en milieu ouvrier (émeutes d'Ivanovo 1932, 1941), files d'attente comme "laboratoires des rumeurs".

Le régime a brisé toutes les structures d'opposition, mais il redoute cette "résistance" passive.

Quelles sont les formes d'autonomie du social ?

Alain Blum étudie "le long terme impertubable" de la sphère démographique (Vivre, naître et mourir en URSS, Plon 1994
Le maintien d'une justice sommaire dans certaines communautés paysannes, la permanence de sectes schismatiques (WC Fletcher, l'église clandestine en Union soviétique 1971), la force de la culture apocalyptique, la constance de formes de "grande peur" en milieu ouvrier suggèrent une autonomie importante.

L'étude des résistances régionales montre des constantes qui obligent à relativiser la "coupure absolue" de 1917.
L'histoire sociale permet de nuancer les grandes inflexions de la chronologie politique :
mars 1921 ne marque pas partout la fin des réquisitions, la dékoulakisation ne se limite pas à l'hiver1929-1930, et pour la masse de la population, 1932 est une année plus terrible que 1937.

La sortie du "totalitarisme stalinien"

Les années 1950-1980 ont fait l'objet d'un nombre limité de travaux, et les archives s'ouvrent à peine (prescription trentenaire).
En quelques années, l'Union soviétique passe d'un système "totalitaire", à un système autoritaire. Les espaces d'autonomie sociale se devéloppent, des économies parallèles (lopins, marché noir) fleurissent.

Les années Khrouchtchev sont celles de la sortie du stalinisme - dépénalisation des relations sociales, fin des répressions de masse, déstalinisation mesurée- et celles des derniers grands mythes - "retour au léninisme", campagne du maïs, conquête des Terres vierges-. Les réformes faites par un "homme du sérail" échouent.

Après 1964, le pouvoir gère le quotidien, et tente de maintenir le statu quo dans un monde et une société qui changent. Il ne voit pas l'émergence d'une société civile pleinement constituée.

Après 1985, la perestroika tente de libérer l'économie et la société du carcan du "système administratif de commandement". L'échec de Gorbatchev est le fruit de 3 décennies de "sortie du stalinisme" où la société a pris sa revanche sur l'Etat.

Recherches et ouverture des archives permettent une approche renouvelée.
A l'étape actuelle, en l'absence d'une synthèse ou d'un dépassement qui prendrait en compte les 2 tendances historiographiques, N Werth cite K Pomian

"En fait, rien ne s'oppose à l'utilisation de "totalitaire" et de "totalitarisme" par l'histoire et par les sciences sociales. Comme Marc Blch le dit de "féodalité" et de "société féodale" : à condition de traite ces expressions simplement comme l'étiquette, désormais consacrée, d'un contenu qui reste à définir, l'historien peut s'en emparer sans plus de remords que le physicien n'en éprouve, lorsqu'au mépris du grec, il persiste à nommer atome une réalité qu'il passe son temps à découper".

Questions :

Quel degré d'adhésion des ouvriers ?
Une question centrale, mais difficile : les archives s'intéressent davantage aux refus qu'à l'enthousiasme.
L'adhésion est cependant un élément de promotion sociale. Le régime produit une formidable exclusion, et une très forte ascension sociale.

Quelles études pour l'après 1953 ?
Très forte disproportion dans le niveau des recherches, en liaison avec la disponibilité des archives. Peu d'études récents sur Khrouchtchev, sur Brejnev. Mais quelques travaux sur la politique étrangère de l'URSS.

1953 semble bien plus une rupture qu'un élément de continuité.

Le totalitarisme est-il un modèle valide pour l'historien ?
Comme forme statique, le totalitarisme convient aux politologues qui insistent sur l'invariant.
L'historien préfère étudier l'approche dynamique, les mutations liées aux hommes, aux structures, au contexte international.

Peut-on dénombrer les victimes du stalinisme ?

Les archives de plusieurs institutions permettent des estimations, avec de grandes discordances selon les auteurs.
Pour N Werth, 20 millions de personnes ont pu passer dans les camps entre 1930 et 1953, les effectifs ne dépassant pas 2,5 millions à un moment donné.

La mortalité est variable : 18% par an en 1942, beaucoup moins à la fin des années 1940.

Le livre noir du communisme :
L'introduction commune devait porter sur une comparaison des systèmes de terreur dans chacun des pays communistes. Stéphane Courtois a déplacé le sujet vers une comparaison entre communisme et nazisme, sans faire appel à des spécialistes du nazisme.
La comptabilité des victimes ne suffit pas à rendre compte des spécificités de chaque système répressif : le laogai chinois insiste sur la rééducation des esprits, et on y entre, on ne sort pas.

La Russie en 1998 :

Un climat de crise continue et dramatique, liée à l'hyperinflation. Ceux qui peuvent disposer d'un lopin sont retournés à l'économie de subsistance.
Marie Mendras (Le Monde, ~13 octobre 1998) souligne l'autonomisation croissante des régions.
Nicolas Werth : Histoire de l'URSS
Nicolas Werth Totalitarisme ou révisionnisme ? L'histoire soviétique, une histoire en chantier Communisme, 47-48, 1996, p 57-70
Nicolas Werth, Gael Moullec Rapports secrets soviétiques, la société russe dans les documents confidentiels, 1921-1991, Gallimard 1995

Dans la revue "L'histoire"
être communiste sous Staline, 30 p113-120
De l'amour libre à l'ordre moral 72 page: 74-79
Moscou : " Le plus beau métro du monde " a 50 ans ! 81 page: 88-91
URSS : les mécanismes de la corruption (entretien) 149 page: 46-51
Félix Dzerjinski et les origines du KGB, 158 page: 30-42
Goulag : les vrais chiffres, 169 page: 38-51
La vraie guerre des partisans russes, 171 page: 26-33
Comment Staline a affamé l'Ukraine, 188 page: 78-84
URSS : les ruines de l'empire (201 (SPÉCIAL) page: 88-93
La prise du pouvoir par les bolcheviks, 206 page: 24-35
Communisme : l'heure du bilan , 217 p 6-7
La Russie soviétique, révolution, socialisme et dictature, 223, p8-21

Notes personnelles, Daniel Letouzey

http://aphgcaen.free.fr/werth.htm

liste des cours d'histoire géo

Jean-François Revel

Jean-François Revel

par Olivier Todd
Lire, février 1997

Olivier Todd interroge Revel. Entre le journaliste et le philosophe amoureux de la vie, on est convié à une conversation sans détour. De celles qui ne se tissent qu'entre les vieux amis.

Cartes sur table, «déclaration d'intérêt», disent les Britanniques: j'ai, pour Revel, depuis longtemps, dans le désordre, de l'affection, de l'amitié, de l'admiration et de la reconnaissance. Pour la première fois, Jean-François livre sa vie jusqu'en 1981: il répond aux questions que se posent les lecteurs d'une vingtaine de livres influents, dans la quarantaine de pays où ils furent traduits. Qui sont l'homme et le bonhomme, l'encyclopédie ambulante, l'ami, l'amant, le mari, le père de famille, l'adversaire derrière tant d'écrits? Ici, l'analyste est en retrait du portraitiste, le penseur aligné sur l'artiste. Le normalien défroqué, l'ancien directeur de L'Express, le voyageur permanent décrivent sans complaisance des moments jalons, leurs rencontres avec de nombreux inconnus et célébrités. Savourez le style. Etincelant, crépitant, avec des plages mélancoliques, féroces, tendres. Précis, clair, drôle, l'écrivain est au niveau du penseur: un vrai moderne devient aussi un classique. Dans la vie quotidienne, Revel est pathologiquement à l'heure, toujours très en avance à ses rendez-vous. Il a un tort incontestable: politiquement et intellectuellement, il fut et reste en avance sur beaucoup de nos grands et petits maîtres aux normes parisiennes. Tout le monde - euphémisme! - n'a pas été revélien. Mais tout le monde commence à l'être ou le sera. Ce type insupportable, quoi qu'il en pense, paraît en danger de canonisation anticipée. Seules l'extrême gauche tarama et la droite extrême surgelée le fuient encore. Courage, camarades, encore un effort! O.T.




Olivier Todd. Pourquoi publier tes Mémoires maintenant? As-tu l'impression de devenir une institution?
Jean-François Revel. Au contraire, je pense être un marginal. Ecrire des Mémoires implique que l'on traite d'un passé relativement reculé, un peu dépersonnalisé par rapport à soi-même, que l'on aperçoit à travers une assez épaisse paroi de verre, celle du temps. Ce qui m'est arrivé depuis 1982-1983 n'est pas pour moi du passé. C'est encore présent. Les méandres de ma carrière littéraire m'ayant amené à écrire surtout des essais, j'avais aussi envie de revenir au récit.

O.T. Pourquoi ce pseudonyme, «Revel»? Et celui de «Ferral», pendant la Résistance?
J.-F.R. Ferral est un personnage de La condition humaine, un livre que j'ai aimé autrefois... Certains romans se fanent. Revel? Professeur de philosophie en 1957, j'ai pensé qu'il n'était pas très adroit, pour enthousiasmer mes élèves, de signer un ouvrage où je leur expliquais que la philo était de la fumisterie - pour simplifier. Bien sûr, c'est plus compliqué. Avec des amis j'avais mes habitudes dans un restaurant, Chez Revel, rue de Montpensier. Longtemps, j'ai été «Ricard dit Revel» ... Puis j'ai changé légalement de patronyme.

O.T. Le voleur dans la maison vide, c'est un titre de roman. Ton récit ne suit pas l'ordre chronologique tout en demeurant très clair. Tu vas, tu viens, tu reviens dans une construction en spirale et contrepoints.
J.-F.R. Il y a deux catégories de Mémoires. Les Mémoires-romans, les Confessions de Rousseau, les Mémoires de Saint-Simon - des modèles écrasants. Ils valent par la qualité du récit, l'originalité de la langue. Les Mémoires-documents, de chefs d'Etat, de diplomates, eux, valent par les renseignements qu'ils offrent. Ce n'est pas à cause de l'importance des souvenirs que je rapporte que je souhaite être lu, mais en raison de la manière dont je les traite. Ce n'est pas un livre consacré aux gens remarquables à cause de leur célébrité. Je parle aussi de gens extrêmement amusants ou émouvants que j'ai rencontrés, surtout avant trente ans. J'ai croisé beaucoup de gens remarquables qui ne sont jamais devenus célèbres et beaucoup de gens célèbres qui n'étaient pas remarquables du tout. Aujourd'hui encore, parmi mes plus chers copains, il y a un marchand de vin belge, un marchand de fruits et légumes tunisien, des marins-pêcheurs, des agriculteurs... Généralement, les intellectuels n'ont de contact avec le peuple qu'à travers leur coiffeur ou leurs chauffeurs de taxi.

O.T. Comment te vois-tu, au physique et au moral?
J.-F.R. Adolescent, je me voyais naïvement don Juan dans l'avenir. A vingt ans, je me suis rendu compte que je n'avais pas le physique d'un don Juan, ça ne m'a pas empêché de mener une vie personnelle heureuse. Pour le reste, je me vois comme un accident. Et aussi un boulimique de la lecture, de la documentation. Après avoir lu 75 pages sur la monnaie unique, je me dis: ça va gâter ton style, ce charabia. J'ouvre un classique, de manière à me purifier du jargon. J'ai toujours beaucoup travaillé, tout en menant, souvent, le contraire d'une vie de clerc. Je me suis même parfois bien amusé. Dans Pour l'Italie, j'ai écrit pour plaisanter que je préparais un livre, Les deux gouffres de la morale et de la digestion, allusion au livre de Bergson, Les deux sources de la morale et de la religion. Je rencontre encore dans le TGV des gens qui me disent: «Vous n'avez toujours pas publié Les deux gouffres...» Je n'ai jamais pu me résoudre à être uniquement un universitaire, ou uniquement un écrivain ou un journaliste. Ça ne veut pas dire que des domaines auxquels je me suis intéressé, l'histoire, la critique d'art, la poésie, l'économie..., me poussent à devenir dans ces domaines un spécialiste éminent.

O.T. Mais tu es un spécialiste de la bonne chère et du bon vin?
J.-F.R. Mes rapports avec l'alcool sont dans mon livre en filigrane. Ça, il faut le négocier. Je prévois des périodes d'abstinence. J'ai passé ma vie à tenter de trouver un équilibre, sans me résigner à l'arrêt total, dont certains sont capables. Ça me plongerait dans des abîmes de tristesse.

O.T. Ce livre est dédié à ton père. Vous étiez en froid quand il était pétainiste.
J.-F.R. Ça ne m'a pas empêché de le sortir de prison après la Libération. Il a déraisonné un moment sur le plan politique. Mais c'était un type très bien, qui sortait d'un milieu très pauvre. Son intelligence naturelle lui a permis de réussir dans la vie. Il lisait énormément. Il avait une culture de contact direct avec les textes. En peinture, c'était un connaisseur. Son authenticité dans la fringale littéraire a été pour moi déterminante. Je lui dois avant tout de me moquer complètement du statut d'un écrivain, d'un philosophe ou d'un peintre tel que la pensée conventionnelle et médiatique d'un moment le situe.

O.T. Tu as adoré les femmes de ta vie et tes enfants. Tu as toujours aussi détesté certaines obligations de la vie de famille. Dans ces Mémoires, tu parles avec plus de précision de Paola, l'héroïne de la nouvelle dans Pour l'Italie. Une autre femme que tu aimes beaucoup, Claude Sarraute, est presque absente dans ces Mémoires, et un autre écrivain, ta belle-mère, Nathalie Sarraute.
J.-F.R. L'épisode Paola, des années 50, bénéficie de «l'effet d'étrangeté» brechtien: je me vois comme un autre, comme un personnage de comédie. J'ai épousé Claude il y a trente ans. Ce mariage réussi, je n'ai pas envie d'en parler, j'ai envie de le vivre, tout simplement. Je n'ai pas voulu évoquer Nathalie Sarraute, pour qui j'ai une très grande admiration. On parle difficilement de l'œuvre de quelqu'un qu'on voit fréquemment. Son œuvre est originale, éblouissante. Il y a peu d'œuvres jalonnant l'histoire de notre littérature, qui comme la sienne remettent tout en question, les sujets et la technique. Si je la commentais, j'aimerais la débarrasser du pédantisme qui l'environne. Ce que j'admire le plus dans son œuvre, c'est son théâtre. Pour un oui ou pour un non est une pièce prodigieuse. Elle a renouvelé le théâtre presque plus que Beckett. Je la mettrais au niveau de Ionesco, bien que les thématiques n'aient aucun rapport.

O.T. On peut lire, à propos du jeune collégien Ricard: «On ne me déniait pas l'intelligence, mais on ne pouvait souffrir ce que j'en faisais.» Aujourd'hui, c'est encore le cas. Tu es d'abord un écrivain - un artiste des mots - et un philosophe de l'histoire et des mœurs - plus empiriste que rationaliste au sens strict. On peut lire aussi - est-ce une coquetterie?: «Je n'ai jamais été tout à fait sérieux, et là où je le suis, ce n'est jamais dans un seul domaine à la fois.» Ce n'est pas l'impression de tes amis ou ennemis, fort nombreux. Qui est cet insupportable Revel? Et ton côté parfois obsessionnel - la politique, le PS, ces dernières années?
J.-F.R. Obsessionnel? Oui et non. Mes livres politiques sont en vérité des livres de philosophie. Une des grandes questions de La tentation totalitaire, en 1976, c'est: pourquoi, dans les sociétés libres, y a-t-il tant de gens qui haïssent la liberté et veulent absolument vivre en société totalitaire? Pourquoi, étant donné que les pays totalitaires s'affaiblissent de plus en plus, nous échinons-nous à les perpétuer? Ce n'est pas une obsession: c'est plutôt un sujet qui m'était imposé par les réalités. Dans La connaissance inutile, en 1988, j'ai posé le problème des rapports de l'homme avec la vérité, avec la fuite devant la vérité. Il y a des chapitres sur le journalisme, l'enseignement, les manuels scolaires, la politique..., mais ce ne sont que des exemples. Certains sont tirés du temps de Démosthène: les Athéniens ne voulaient pas voir que Philippe de Macédoine allait les bouffer et détruire la cité grecque. Pourquoi l'espèce humaine n'a utilisé que partiellement les informations, les vérités qu'elle avait sous les yeux, c'est un grand problème philosophique - elle refusait de voir et de savoir. Elle préférait les catastrophes à la lucidité.

O.T. Que penses-tu du rôle et du statut des intellectuels français aujourd'hui?
J.-F.R. Je suis contre l'idée que les intellectuels doivent avoir un statut. Ils ont de l'influence ou de l'écho dans des situations simples, ce qui ne veut pas dire sans importance: quand il s'agit de pétitionner contre les Hutu, les Tutsi, les Bosniaques, sur les causes humanitaires... Très bien, bravo. Mais l'histoire de l'influence qu'exerceraient les intellectuels sur la vie politique comme ils devraient le faire et non pas à coups de mots d'ordre me paraît, en France, tout à fait mythologique. Chez nous, les intellectuels n'ont plus d'influence dans la société, sauf quand ils émettent des slogans. L'influence des intellectuels, ça devrait être celle de leurs idées, des documents et des raisonnements sur lesquels ils s'appuieraient. Les intellectuels ont de l'influence en France lorsqu'ils flattent un vague «politiquement correct». Prends l'enseignement: on nous explique que les jeunes sont de plus en plus amers parce que, quand ils sortent de l'enseignement secondaire avec un diplôme, ils ne peuvent pas trouver de travail. En même temps on explique qu'il est parfaitement légitime de ne pas les forcer à travailler quand ils sont au lycée. Si les élèves passent leur temps à insulter leurs profs et à leur casser la gueule, ils ne risquent pas d'apprendre grand-chose. Quelle influence a eue le livre de Maurice Maschino, Voulez-vous des enfants idiots? Ou le rapport de la commission Fauroux? Comment pouvait-on se permettre de dire que, pour apprendre quelque chose, il faut peut-être travailler! Quel scandale!

O.T. Dans ton livre, il y a ici et là des croquis d'hommes politiques. Tu es cruel avec Mitterrand, pas très aimable avec Giscard. Pour Chirac, tu sembles lui laisser le bénéfice du doute...
J.-F.R. Ce qui m'intéresse dans mes Mémoires, ce sont les personnages des hommes politiques, la dramatisation, la mise en scène, le caractère, le type, la manière de parler. Quand ils reçoivent un écrivain, les hommes d'Etat étrangers que j'ai connus, américains, portugais, espagnols, italiens, lui posent des questions. Cela ne veut pas dire qu'ils tiennent compte de sa réponse. Mais ils écoutent, ils notent. J'ai connu Mitterrand pendant vingt ans. Il n'écoutait pas, il n'interrogeait pas. Son seul objectif moral dans le monde était sa propre survie politique. Il ne s'intéressait pas à telle idée politique - nationaliser, privatiser, réformer notre système scolaire - en fonction d'une analyse intrinsèque du sujet, mais comme un joueur qui dit: «C'est le 8 qui va gagner, et je vais jouer le 8.»

O.T. Comment vois-tu la philosophie française aujourd'hui? A propos de Tran Duc Thao, ton ami de l'Ecole normale en 1942, phénoménologue passé depuis - de force - au marxisme, tu dis que «c'était un pur philosophe, en ce sens qu'il ne se demandait jamais si une philosophie était vraie ou fausse» ... Tu vois des progrès depuis la publication de Pourquoi des philosophes, en 1957?
J.-F.R. Tran Duc Thao a été broyé par les hommes de Hanoi après son retour au Vietnam. La dernière vague de la philosophie traditionnelle comme construction systématisée, comme interprétation du réel s'estimant supérieure à la science, les grandes idéologies philosophico-politiques se sont effondrées. Nous sommes sortis de ces tunnels, Sartre, Foucault, la philosophie traditionnelle. D'autre part, l'idée, apparue au XVIIIe siècle, que la recherche du bonheur et de l'équilibre personnel ne passe plus par une sagesse personnelle mais par la construction d'une société juste, est aujourd'hui abandonnée. On revient maintenant à des manuels de sagesse pratique. Comte-Sponville redécouvre les vertus de la politesse, de la modération. Je trouve beaucoup de mérite au dernier livre de Luc Ferry, L'homme-Dieu ou le sens de la vie. On recommence à réfléchir sans dogmatisme. On revient à une philosophie, au fond très modeste, du savoir-vivre, à ce que l'on entendait par philosophie à l'époque de Montaigne. Ça explique aussi l'intérêt pour une sagesse héritée des philosophes de l'Antiquité grecque, ou pour un certain christianisme, pour le bouddhisme.

O.T. Le voleur dans la maison vide est dur avec les journalistes. Rien que le titre du chapitre, «Le plus jeune métier du monde» ... Il fait penser au «plus vieux métier» ...
J.-F.R. Titre innocent! C'est un constat: le métier de journaliste est vraiment né au XIXe siècle. J'ai voulu montrer que le milieu du journalisme est le reflet de l'ensemble de la société. Je ne méprise pas plus les journalistes que je ne méprise les autres êtres humains. Il y a de tout parmi eux. Il y a des gens très intelligents et très scrupuleux, qui ont une vaste culture, d'autres qui sont incompétents, ne vérifient rien, n'ont pas les informations de base, ou sont abominablement partisans, du point de vue politique, ou en fonction d'une école littéraire ou artistique particulière. J'ai dirigé les pages culturelles de France-Observateur au début des années 60: certains critiques soutenaient l'abstraction lyrique, d'autres l'abstraction paysagiste: ce n'est pas le métier d'un critique d'art de devenir le porte-parole attitré de telle ou telle école. A L'Express, quand je voyais des journalistes partir pour un reportage dans un pays étranger sans avoir absorbé la documentation élémentaire, alors que nous avions un excellent service de documentation, je me disais: ça ne va pas.

O.T. On te reprochera peut-être de trop parler de L'Express, dont tu as été le directeur de 1978 à 1981.
J.-F.R. On aura tort. La réalité de la vie d'un journal est quelque chose que les gens connaissent peu. Je suis entré à L'Express en 1966, comme éditorialiste dans la partie culturelle. Je me sentais tout à fait libre de partir, ayant d'autres moyens d'existence grâce à mes livres. J'ai vécu toutes les crises, le départ d'une partie de l'équipe pour fonder Le Point, la vocation politique de JJSS et de Françoise Giroud, devenus ministres... Je n'étais pas fondamentalement journaliste. Pour ce qui est des rapports avec la rédaction, avec le propriétaire, avec le public, avec le monde politique ou le monde culturel - aussi partial et rancunier que le monde politique -, très peu de gens ont été, comme moi,en position de les décrire tout en ayant la volonté de le faire. Cela dit, il ne faut pas se fonder sur L'Express pour juger tous les journaux. La direction était difficile. Nous avions critiqué le Programme commun dès 1972. On n'avait pas attendu Jimmy Goldsmith pour ça. Néanmoins, deux tiers de la rédaction étaient de gauche. Pour eux, ne pas soutenir l'union de la gauche était un crime contre l'humanité.

O.T. Tu parles de Jimmy Goldsmith sur un ton, disons, sucré-salé... Tu reconnais qu'il est très intelligent. Tu le dis aussi «parfaitement inflexible», «aisément influençable», «dangereusement versatile». Tu parles aussi de «fourberie» à son sujet. Coup de pied humoristique de l'âne, tu te demandes s'il ne serait pas «une taupe socialiste chargée de discréditer le libéralisme».
J.-F.R. Jimmy est l'une des personnalités les plus pittoresques du monde actuel que j'aie jamais rencontrées, un des personnages de notre temps les plus amusants à observer... Avec son parti pour le référendum en Grande-Bretagne, il est «dans les nouvelles», comme on dit en anglais...

O.T. ...original et marginal?
J.-F.R. Si on veut. Il «typifie» - mot barbare - un cas précis: un milliardaire qui veut exercer une influence par des voies culturelles, journalistiques ou autres. Il se dit: j'ai fait fortune, maintenant je vais transformer le monde, ou l'influencer. Donc je vais acheter des journaux. Ces types d'individus, même très intelligents, ont une idée extraordinairement naïve des méthodes de persuasion. Ils ne comprennent pas que ce n'est pas en les bombardant d'affirmations qu'on fait changer les gens d'avis. Servan-Schreiber et surtout Françoise Giroud savaient que les méthodes qui servent à influencer l'opinion sont indirectes. Il faut du goutte-à-goutte. C'est aussi mon principe. Je m'étends sur Jimmy, d'abord parce qu'il est intéressant, haut en couleur, et parce que ça me permet de poser le problème des rapports de la rédaction et des propriétaires.

O.T. Quel effet ça te fait quand on t'étiquette «homme de droite»? Pourrais-tu dire, avec Camus, que tu te sens toujours à gauche - «malgré elle et malgré moi»?
J.-F.R. Naturellement. Je n'ai jamais cessé de me considérer comme étant de gauche. A l'origine, être de gauche, c'est lutter pour la vérité et la liberté, et pour le maximum de justice sociale. Mais une justice sociale établie selon des méthodes qui marchent, pas selon des méthodes qui échouent, comme la redistribution à tout-va qui ne fait qu'affaiblir l'économie. Ayant combattu les régimes totalitaires, je n'admets pas d'être traité d'homme de droite par les hommes qui les ont soutenus, par ceux qui encensent encore Fidel Castro. Si trouver Castro répugnant, c'est être de droite, alors je veux bien être de droite. Ces gamineries témoignent de la sclérose intellectuelle la plus totale. Ce qu'on appelle la gauche n'est plus aujourd'hui qu'un clan, une espèce de tribu, un ensemble de spécialistes de l'escroquerie dans les relations publiques, de manipulateurs habiles, qui ont l'art de présenter des idées et des théories qui ont amené les plus grandes catastrophes dans l'histoire de l'humanité comme étant des choses progressistes.

O.T. Qu'as-tu ressenti quand le mur de Berlin est tombé?
J.-F.R. Rien de particulier: une confirmation. C'est arrivé plus vite que je ne l'attendais. Je croyais à la fragilité fondamentale des régimes totalitaires. J'ai insisté sur leur capacité à survivre à leurs difficultés pour ajouter aussitôt que cette capacité de survie provenait de l'aide que leur apportaient stupidement les démocraties. En même temps, quand le mur est tombé, j'ai éprouvé une certaine tristesse.

O.T. ...parce que ce n'était pas arrivé avant?
J.-F.R. Non. Parce que je me suis dit qu'on n'allait pas en tirer les leçons. Cela se confirme: on n'a pas vraiment fait l'analyse des raisons pour lesquelles tant de gens ont cru au communisme ou ont été complaisants à son égard. On ne parle que du nazisme pour éviter de parler du communisme. Les deux sont liés. Comme l'a dit Markus Wolf, l'ancien chef des services secrets de l'Allemagne de l'Est, Staline a tué beaucoup plus de communistes qu'Hitler.

O.T. En France, on nous présente Robert Hue comme la dernière incarnation du communisme à visage humain: figurez-vous, il s'intéresse à la peinture! Andropov aussi.
J.-F.R. Bien sûr. La France est retardataire. Dans ce domaine, on refoule.

O.T. De tes livres, quel est ton préféré? Et celui que tu recommanderais aux jeunes lecteurs qui ne te connaissent pas?
J.-F.R. Le plus cher à mon cœur: Pourquoi des philosophes, avec son complément, La cabale des dévots. Avec ce bouquin, l'épine dorsale de mon œuvre est constituée par Ni Marx ni Jésus, La tentation totalitaire, Comment les démocraties finissent et La connaissance inutile. Pour comprendre la difficulté de l'après-communisme, je recommanderais Le regain démocratique. J'y analyse longuement l'expérience Gorbatchev. J'y parle aussi des problèmes du tiers monde, de l'évolution des vieilles démocraties, minées de l'intérieur par la corruption, et du problème immémorial: «Qu'est-ce qu'une société viable?»

O.T. Il y a une quinzaine d'années, un soir, je t'ai dit: «L'espèce humaine s'est toujours servie des armes qu'elle s'est inventées. Crois-tu à une troisième guerre mondiale atomique avec les résultats qu'on peut en attendre?» Tu m'as répondu: «Ce n'est pas impossible.» Dans tes Mémoires, tu me sembles plus optimiste. Tu dis aussi: «L'espèce humaine mérite, tout bien pesé, de survivre.» On peut d'ailleurs mériter de survivre et ne pas survivre...
J.-F.R. Quand je t'ai répondu cela, nous étions en 1979. La situation n'avait jamais été aussi dangereuse. Il y avait de gigantesques menaces de l'Union soviétique. On lui avait accordé la parité nucléaire. Les Soviétiques menaçaient toute la zone du Golfe, s'infiltraient en Afrique. Il y avait un risque que l'Ouest ne voie plus d'autre riposte que de brandir la menace atomique. Nous étions dans ce qu'on appelait à l'époque une «fenêtre» particulièrement périlleuse pour l'équilibre Est-Ouest. La dissuasion ne jouait plus. On sait que le dispositif militaire, notamment nucléaire, des Soviétiques en Europe de l'Est était un dispositif, une «posture» comme on dit, offensive, et non pas uniquement défensive. Les Soviétiques ont perdu la guerre d'Afghanistan grâce à Reagan. En Angola et au Mozambique ça n'a pas marché. On a déployé des euromissiles. Dès 1985, la situation était devenue très différente.

O.T. T'arrive-t-il d'être agacé parce qu'on n'attache pas assez d'importance à ton style?
J.-F.R. Pas en profondeur. Mais il est vrai qu'il y a un préjugé. On considère aujourd'hui que seule la fiction est de la littérature. Avec un tel critère, Homère, Tite-Live, Tacite, Montaigne, Tocqueville, ça n'est pas de la littérature.

O.T. Penses-tu à ta mort?
J.-F.R. Evidemment. J'en suis toujours resté à Epicure et à Montaigne. Un chapitre de Montaigne s'appelle «Que philosopher c'est apprendre à mourir». Mais je ne suis pas non plus tellement d'accord avec ça. Cela ne s'apprend pas. On ne peut apprendre que ce qu'on peut répéter. La mort est un fait unique et un fait brut. A partir du moment où on ne croit pas à un au-delà ou à une réincarnation, il ne reste plus qu'à accepter le néant.

http://www.lire.fr/entretien.asp?idC=32248&idTC=4&idR=201&idG=
Catégories: Articles par/avec Revel, Documents importants
Dans cette interview exceptionnelle par son ami Olivier Todd, Jean-François Revel parle de sa vie, de son oeuvre…
Lire l’interview
http://chezrevel.net/entretien-avec-olivier-todd/

liste des cours d'histoire géo

«Le communisme nous laisse des ruines gigantesques»

«Le communisme nous laisse des ruines gigantesques»

par Christian Makarian

En 1997, Stéphane Courtois lançait un pavé dans la mare en publiant Le Livre noir du communisme, dans lequel il dressait, avec ses coauteurs, un bilan catastrophique de l'idéologie marxiste à travers le monde. La vive polémique qui s'est ensuivie l'a opposé à toute une frange de la gauche bien-pensante et l'a décidé à écrire un second tome, Du passé faisons table rase! Rencontre

Pourquoi publiez-vous aujourd'hui une «suite» au Livre noir?

Parce que ce livre, traduit dans 26 pays, a connu un succès incroyable dans les ex-pays communistes et soulevé partout un vif débat. Plusieurs éditeurs nous ont donc demandé d'ajouter à la traduction initiale un chapitre concernant leur propre nation. C'est ainsi que me sont parvenus des textes qui présentaient énormément d'intérêt - soit sur le plan historique, soit au niveau de l'intérêt général de la réflexion - sur les cas russe, estonien, roumain, est-allemand et grec. D'où l'idée de les publier, non sans y intégrer des contributions concernant la Bulgarie et l'Italie.

Vous faites néanmoins précéder cet ensemble d'une introduction toute personnelle...
Oui, après les attaques que Le Livre noir a suscitées, je tenais à mettre les choses au point. Nous avons en Europe de l'Ouest, et particulièrement en France, une mémoire du communisme qui est souvent glorieuse, incontestable, indiscutable. C'est une légende, un véritable mythe, qui confine parfois à l'invraisemblable... Quand, en 1991, on a vu Georges Marchais [alors secrétaire général du PCF], qui avait passé plusieurs années en Allemagne comme travailleur volontaire, venir présider la grande cérémonie du cinquantenaire en l'honneur des fusillés de Châteaubriant, c'était un spectacle stupéfiant... Mais rien n'y a fait: le mythe était si puissant que même Georges Marchais pouvait se permettre cela. Et ce, jusqu'au sommet de l'Etat, puisque Lionel Jospin a caché pendant de nombreuses années qu'il avait été troskiste, ce qui est quand même bizarre. Du reste, il est intervenu de façon extrêmement virulente à l'Assemblée nationale pour défendre le PCF. Or, de l'autre côté, en Europe de l'Est, la mémoire du communisme correspond à une catastrophe nationale, à une tragédie, dans chaque pays.

Donc, vérité au-delà des Carpates et erreur en deçà... Commençons par la France. Vous avez la dent très dure...

Depuis la parution du Livre noir, la polémique s'est développée en France tant du côté communiste que du côté gauchiste. Il existe, en effet, chez nous une espèce de gauchisme culturel, très répandu, très bon chic bon genre. Il n'est pas tant le fait des bobos que des «bobobos» - bourgeois, bohèmes, bolchos - qu'on rencontre un petit peu tous les jours, dans l'Université, dans les médias, dans la politique, etc. On est confronté en permanence à ce politiquement correct. Alors le nazisme, c'est abominable, on est d'accord; Le Pen, c'est horrible, on est d'accord. Mais, dès qu'on parle d'autres problèmes, qui sont tout aussi importants, c'est un tollé!
Or, en fait, le communisme nous laisse des ruines absolument gigantesques. Ruines économiques: il suffit d'aller visiter ces pays pour voir de quoi il retourne. Ruines politiques, bien sûr, parce qu'on ne reconstruit pas une démocratie comme ça, en quelques mois. Et puis, beaucoup plus en profondeur, ruines de la société. Le tissu social a été détruit, les élites ont été détruites, les repères ont été détruits... Les repères moraux, par exemple, ont en grande partie disparu. Il y a des milliers de filles de l'Est qui se prostituent à l'Ouest. C'est une énorme catastrophe. Plus toutes les mafias...

Comment expliquez-vous l'aveuglement français?

Il existe un certain nombre de mythes encore très vivaces à gauche: la Commune, le Front populaire, le tout ayant été fortement réactivé par Mai 68. A mon avis, la vraie explication réside dans notre culture révolutionnaire. 1789-94, c'est finalement le cœur de notre identité, politique et même sociétale. Beaucoup de gens n'arrivent pas à s'arracher à cela. Il est tout à fait étonnant de voir comment ils rééditent cette confusion, cet amalgame incroyable qui a été fait en 1920 entre révolution française de 1789 et révolution russe de 1917. Robespierre-Lénine, ou même Robespierre-Staline. Mais l'un n'a rien à voir avec l'autre. On peut dire qu'il y a chez Robespierre des éléments protototalitaires, mais enfin la Terreur a été très limitée; elle a été sanctionnée dès 1794. Et puis 1789, c'est quand même la Déclaration des droits de l'homme et du citoyen... Il n'y a rien de tel dans la révolution russe, du moins pas dans la révolution bolchevique. Chacun se souvient des difficultés que François Furet a eues à tenir un discours qui n'était pas historiquement correct, si je puis dire. Nombre de professeurs de lycée ou d'université, des chercheurs du CNRS même, tiennent le haut du pavé et continuent de faire passer un discours qui est maintenant largement infirmé par les travaux historiques. Je crois que c'est assez spécifiquement français. Il suffit d'évoquer la figure d'un Sartre qui, jusqu'à la fin de ses jours, a soutenu la bande à Baader ou la Gauche prolétarienne et s'est solidarisé avec des terroristes. Cet homme était censé être le phare de la pensée française... Enfin, les historiens qui travaillent sur le communisme sont souvent d'anciens communistes ou d'ex-gauchistes. Or maoïstes, trotskistes, communistes appartiennent à la même mouvance idéologique, et d'ailleurs, comme par hasard, eux, qui se sont beaucoup battus et entre-déchirés pendant des dizaines d'années, se retrouvent tous réunis dans les mêmes manifestations depuis que le communisme s'est écroulé à Moscou. Ce qui prouve bien qu'ils appartiennent à la même famille idéologique, celle de Lénine. Ajoutons qu'il a suffi que les communistes s'effondrent pour que les gauchistes remontent à la surface.

Est-ce que, du coup, le travail de vérité historique ne va pas plus vite à l'Est?

A l'Est, il y a d'autres problèmes, en particulier le cas des vraies-fausses révolutions, comme en Russie, où l'on est parfois en pleine restauration communiste. Ces derniers jours, on annonçait que le maire de Moscou souhaitait remettre en place la statue de Félix Dzerjinski - fondateur de la Tchéka, la police secrète - sur la place de la Loubianka. La Roumanie est confrontée au même type de problème depuis la pseudo-révolution de 1989. Dans ces pays, il n'est pas très facile de faire l'histoire du communisme. Néanmoins, il y a des gens sérieux, courageux qui se battent. Par exemple, la fameuse association russe Mémorial, à Moscou, effectue pratiquement le même travail que celui qu'a accompli Serge Klarsfeld sur l'extermination des juifs de France par les nazis. En l'occurrence, le travail de mémoire et d'histoire porte sur la fameuse phase de la grande terreur de 1937-1938, qui s'est soldée par un véritable massacre organisé: 700 000 fusillés en quatorze mois, sur listes, pas au hasard, avec des quotas, le tout visé par le bureau politique. On est donc en train de reconstituer entièrement la liste des fusillés: nom, prénom, date de naissance, lieu, etc. Rien que pour Leningrad [Saint-Pétersbourg], cela a déjà permis d'aboutir à un annuaire de 40 000 noms. Autre contribution à la vérité, Alexandre Iakovlev, ex-conseiller de Gorbatchev et inventeur de la perestroïka, lève le voile sur les débuts du léninisme en signant un chapitre clef dans Du passé faisons table rase! On y apprend que, dès les premières heures de 1917, les bolcheviques avaient recruté des nervis dans la pègre russe, parmi les voyous et les tueurs. Et c'est un ancien responsable du Kremlin qui le raconte! La vérité est en marche, mais elle a besoin de temps.

----------------------------------------------------------------------
Staline, le tyran rouge
http://www.leblogtvnews.com/article-5726389.html
http://forums.france5.fr/arretsurimages/Presidentielle-des-questions-qui-fachent/staline-m6-sujet_35_2.htm
www.cndp.fr/tice/teledoc/mire/teledoc_tyranrouge.pdf

MARIE Jean-Jacques, Staline, Librio, 2003. • COURTOIS Stéphane, WERTH Nicolas, PANNÉ Jean-. Louis et al., Le Livre noir du Communisme: crimes, terreur ...
http://perso.orange.fr/arkham/thucydide/butinage/2001-01.html



Du passé faisons table rase - Stéphane Courtois éd. Robert Laffont

liste des cours d'histoire géo

J.-F. Revel, một người bạn quý của Việt Nam đã mất

J.-F. Revel, một người bạn quý của Việt Nam đã mất

5/2006

Jean-François Revel đã chia tay với cuộc đời, ngày 30 tháng tư năm 2006, ông hưởng thọ 82 tuổi. Việt-Nam mất một người bạn quý. Cái gì hiếm là quý. Việt-Nam không có nhiều bạn trong giới trí thức, văn nghệ sĩ Pháp, trong chính giới cũng vậy… Trong những năm 50, 60, Tây phương chạy theo tư tưởng của Mác, của Lê, của Mao để «giải phóng những dân tộc đang bị tư bản đàn áp», cũng như «giải phóng tầng lớp công nhân» của xã hội Tây phương. Chiến tranh Việt-Nam, những tấm gương hy sinh cũng như những đau khổ tận cùng của dân tộc Việt Nam chỉ được dùng như những dụng cụ theo chiều hướng đánh đổ tầng lớp tư bản. Jean-Paul Sartre, triết gia được tôn sùng như một vị thánh của giới trí thức Pháp đã nói phải giấu một số sự thật, để không làm người công nhân tuyệt vọng : «Il ne faut pas désespérer Billancourt» (Billancourt, ngoại ô Paris là nơi có nhà máy ô tô Renault).

Đầu thập niên 70, Jean-François Revel, cùng với Olivier Todd, không ngại đặt những câu hỏi với giới trí thức Pháp về cuộc chiến Việt-Nam. Những câu hỏi dựa trên sự thật và lương tâm. Hai ông cùng 7 tác giả khác, vào năm 1990, đã phát hành cuốn Hồ Chí Minh, Sự thật về thân thế và sự nghiệp. Cuốn sách được viết và dịch ra 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Việt xuất hiện vào lúc tổ chức Văn Hóa Giáo Dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) dự tính tôn vinh Hồ Chí Minh như “danh nhân văn hóa thế giới” nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông ta. Jean-Francois Revel cùng Olivier Todd và một số nhà văn lẫn triết gia ngoại quốc đã can thiệp để UNESCO hủy bỏ ý định sai lầm đó. Cho đến cuối đời ông, Jean-François Revel được quý trọng như một người trí thức của lương tâm

(theo Bùi Xuân Quang và Minh Võ)

http://tudongonluan.atspace.com/04/tintuc.html

---------------------------------------------------------
http://jlcercke.club.fr/Revel-CommentLesDemocratiesFinissent.htm

http://chezrevel.net/entretien-avec-olivier-todd/
http://www.ledevoir.com/2005/11/07/94466.html

L’engagement de Sartre en faveur du Vietnam s’est vu illustré par une interview télévisée réalisée par Olivier Todd (Panorama, 11/12/1969)
http://www.sens-public.org/spip.php?article252


OLIVIER TODD - Cruel Avril, 1975 La chute de Saigon. France Loisirs, Paris 1987

Vietnam et Pinochet La mémoire tronquéeUne vérification expérimentale de la toute-puissane de ce postulat se produisit du fait de la demande d'extradition de Pinochet par un juge espagnol. Se réclamant de ce précédent, des Vietnamiens de la diaspora eurent l'idée, durant le dernier trimestre de 1998, de porter plainte contre un certain nombre de dirigeants d'Hanoi. On leur rétorqua que les cas présentés étaient irrecevables à cause de la prescription qui frappait les actes remontant à plus de dix ans, même pour les assassinats, tortures et séquestration dont avaient été victimes des parents des plaignants. Or les actes du même ordre reprochés à Pinochet remontent aussi à plus de dix ans. Concluons-en que les mêmes crimes contre l'humanité sont imprescriptibles quand ils sont dus à un dictateur classé « fasciste », et deviennent soudain hautement prescriptibles quand leurs auteurs sont communistes. La doctrine de l' « exception communiste » est fort claire, mais elle viole à la fois les lois internationales en vigueur et le nouveau code pénal français.

La grande parade - Jean-François Revel

Comment les démocraties finissent Jean-François Revel avec le concours de Branko
Lazitch Éditions Grasset & Fasquelle, 1983 (France Loisirs)
http://jlcercke.club.fr/Revel-CommentLesDemocratiesFinissent.htm
http://www.benxua.com/AspNetForums/ShowPost.aspx?PostID=183662&PageIndex=4

http://www.conscience-politique.org/Mediatheque/selectiondelivres.htm
http://www.conscience-politique.org/Mediatheque/mediathequepolitique.htm

-------------------------------------------------------------------
Le livre noir du Parti Communiste, crimes, terreur, répression, par Stéphane Courtois, Nicolas Werth, Jean-Louis Panné, Andrzej Paczkowski, Karel Bartosek, Jean-Louis Margolin, Collection " Bouquins ", Ed. Robert Laffont.Ouvrage de référence, " La Bible " sur la question.

http://www.coe.int/T/F/Com/Dossiers/Interviews/20041214_interv_courtois.asp
http://www.coe.int/T/E/Com/Files/Interviews/20041214_interv_courtois.asp
http://users.skynet.be/roger.romain/biographiesC.html
http://users.skynet.be/roger.romain/staline_soljenitsine_15_01_2004.htm
http://livres.lexpress.fr/entretien.asp/idC=5239/idR=5/idTC=4/idG=0



liste des cours d'histoire géo

Những thước phim mạnh hơn lời nói

Những thước phim mạnh hơn lời nói

27 Tháng 5 2007 - Cập nhật 19h39 GMT

Lê Quỳnh
BBC Việt ngữ, London


Mao tuyển trở thành sách đọc bắt buộc thời Cách mạng Văn hóa

Hôm 24-5 kênh Five ở Anh chiếu phim tài liệu dài gần hai tiếng, Mao’s Bloody Revolution, kể lại thời kì Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc.

Người viết kịch bản và dẫn chuyện, Philip Short, là phóng viên của BBC trong 30 năm, cũng là người đầu tiên được cử về Bắc Kinh trong bốn năm khi đài này được phép mở văn phòng tại đó năm 1977.

Sau khi thôi làm nhà báo, ông chuyển sang nghiên cứu và viết sách, nổi tiếng nhất với quyển sách 800 trang về Mao Trạch Đông, Mao: A Life, rồi sau đó ra sách về Pol Pot (2005).

Cách mạng đẫm máu

Mao’s Bloody Revolution không có tiết lộ nào ghê gớm, có lẽ vì Cách mạng Văn hóa tai hại thế nào ai cũng biết cả, và chủ đề này đã được bàn nhiều. Mới nhất, một tác phẩm tiếng Anh liên quan, Mao’s Last Revolution, của Roderick MacFarquhar and Michael Schoenhals, do Harvard in năm 2006, dài gần 800 trang.

Ưu điểm của bộ phim là tiếp cận được nhiều nhân chứng: bác sĩ, cận vệ, cô giáo tiếng Anh của Mao, con gái Lưu Thiếu Kỳ, con trai Đặng Tiểu Bình người bị tật sau khi phải nhảy lầu vì bị Hồng vệ binh hành hạ…

Nhưng khi xem phim này, điều làm tôi suy nghĩ là những tư liệu lịch sử có thể được giữ lại cho mai sau thế nào.

Điều kỳ thú nhất khi xem một phim tài liệu, và Mao’s Bloody Revolution làm được, là nó sử dụng rất nhiều hình ảnh tư liệu quay vào thời điểm sự kiện xảy ra.

Hầu hết thời gian của 2 tiếng là các thước phim tư liệu. Ví dụ các cảnh đấu tố cựu chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ, cảnh Hồng vệ binh lục soát các nhà trí thức và phú gia, cảnh 100.000 người đọc Mao tuyển trong sân vận động, cảnh thanh thiếu niên chỉ tay lên án và đánh các ông già giữa đường, thậm chí cả giờ phút đập phá đền chùa, phá tượng Phật.

Dù đã đọc nhiều trang viết, nhưng không thể không sốc khi xem cảnh tượng các nữ sinh cầm gậy gộc đánh giáo viên, người già. Hay cảnh đám đông sinh viên chất từng đống sách vào nồi lửa hừng hực khói.

Hiệu ứng thị giác

Những thước phim như thế, khi chiếu lại cho các thế hệ đi sau, có lẽ có sức mạnh hơn nhiều các trang viết.


Nhiều phút giây lịch sử trong thế kỷ 20 chưa được người Việt kịp ghi lại bằng hình ảnh

Lại tự hỏi Việt Nam có còn các đoạn phim gốc như thế về những chương lịch sử gây tranh cãi hay không, ngoài những phim tư liệu ca ngợi chủ nghĩa anh hùng vẫn chiếu trên tivi?

Khi xem Mao’s Bloody Revolution chiếu cảnh Hồng vệ binh đập đổ đền chùa, lại nhớ rằng giai đoạn cải cách ruộng đất ở miền Bắc cũng đã chứng kiến việc dỡ bỏ các đình, chùa ở nông thôn.

Trong tác phẩm Culture, Ritual and Revolution in Vietnam (NXB Đại học Hawaii, 2002), về “cuộc đời” ba chìm bảy nổi của một xã có tên Thịnh Liệt, Shaun Malarney kể lại hành động “giải thiêng” ngôi đình ở một ngôi làng trong xã khoảng năm 1956-57:

"Nhiều dân làng cảm nhận rõ tầng tầng lớp lớp bất bình đẳng và sỉ nhục mà họ đã từng chịu trong các buổi lễ ở đình làng. Giới tinh hoa có học ở địa phương nắm quyền điều khiển các buổi lễ; những người vai vế thấp hơn bị buộc ngồi ở những chỗ thấp kém cách xa bàn thờ [...]"

"Vì vậy khi các cán bộ cho họ cơ hội phá hủy những công trình này, nhiều người hưởng ứng vô cùng hăng hái, đặc biệt ở làng Giáp Nhị. Nhiều dân làng sốt sắng pháo dỡ nhiều biểu tượng của trật tự cũ."

Tự hỏi ở những khoảnh khắc như thế, có đoàn phim nhà nước nào quay lại không nhỉ? Tôi đem câu hỏi này hỏi một người, thì người ấy nói e là không, vì rằng thời đó, “Việt Nam không có phương tiện quay, tầm nhìn cũng hạn hẹp, không biết ghi lại những giờ khắc lịch sử.”

Chưa kịp ghi ngay thì dựng lại vậy. Thế nên có chuyện là hình ảnh biểu tượng của chiến thắng Điện Biên Phủ, cảnh chiến sĩ phất cờ trên nóc hầm tướng De Castries, chỉ là dựng lại, chứ không có thực. Đạo diễn Nga Roman Karmen phối hợp với Việt Nam dựng lại để quay phim, chụp hình. Chuyện này chỉ đến vài năm gần đây người ta mới được nói công khai.

Cho đến gần đây hơn, hình ảnh chiếc xe tăng của quân đội miền Bắc húc đổ cổng Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975 hóa ra cũng chỉ duy nhất do một phóng viên Tây quay được. Như đạo diễn Đặng Nhật Minh viết trong một bài báo: “Không một phóng viên nhiếp ảnh quay phim nào của ta ghi được giây phút có một không hai đó, cho dù quay từ xa, từ phía sau lưng tới.” Các đoạn phim tài liệu trong nước ghi cảnh xe tăng húc đổ cánh cổng, rồi cảnh kéo cờ trên nóc dinh, nếu không phải là mua lại của nước ngoài thì đều chỉ là dựng lại.

Về cải cách ruộng đất, Việt Nam có một số đoạn phim quay cảnh nông dân hớn hở nhận ruộng, mà không chiếu những cảnh đấu tố. Không biết còn những thước phim nào nằm trong kho, hay chưa từng ai quay?

Hiệu ứng thị giác của phim ảnh có tác động lớn thế nào, ai cũng biết. Nhiều phim như Pearl Harbor, Saving Private Ryan bị phê phán là chứa đựng nhiều tình tiết lịch sử không chính xác, nhưng tác động của chúng đến suy nghĩ của khán giả có khi còn sâu sắc hơn nhiều các nghiên cứu “nghiêm túc.”

Đã, đang và sẽ còn những cuộc bút chiến giữa người Việt về nhiều vấn đề lịch sử. Không nói về sự bổ ích, mà chỉ bàn về tác động, thì e rằng tác động của chúng chỉ giới hạn trong một bộ phận có quan tâm trong xã hội. Có nên kêu lên một tiếng “Phim ơi, ngươi ở đâu?” chăng?

dt

samedi 26 mai 2007

Mối Liên Hệ Mỹ-Trung-Việt

Mối Liên Hệ Mỹ-Trung-Việt
5/2007

Trần Nam

“Chính quyền, đảng phái chỉ là phương tiện, dân tộc mới là cứu cánh ”

Tháng 5 năm ngoái, thứ trưởng bộ ngoại giao Hoa Kỳ, ông Robert Zoellick đã có cuộc họp với đại diện Hà Nội. Đây là cuộc họp cao cấp nhất kể từ lúc Tổng Thống George Bush đắc cử nhiệm kỳ 2. Bên cạnh các trao đổi về quan hệ kinh tế, trọng tâm của cuộc họp thảo luận những quan tâm về chính sách đối phó với khủng bố và thiết lập ảnh hưởng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam . Tuyên bố với báo chí, ông Zoellick cho biết Hà nội rất mong muốn cải thiện mối giao thương giữa hai nước, tuy nhiên họ có những lo ngại khác quan trọng hơn, đó là tình hình an ninh khu vực. Việt Nam muốn có liên hệ mật thiết với Hoa Kỳ về quân sự để giảm mối quan tâm trước anh láng giềng khổng lồ Trung Quốc, đang gia tăng bành trướng tiềm năng quân sự một cách đáng kể.

Mối tình hữu nghị giữa Trung-Việt bề ngoài trông thân thiện vì có cùng ý thức hệ nhưng hai bên coi nhau cựu thù. Cuộc chạm trán hồi 1988 trên biển Đông về việc tranh dành chủ quyền đảo Trường Sa (Spratley Islands) vẫn chưa giải quyết. Từ 1974, Trung quốc đã dùng vũ lực tấn công và chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa ( Paracel Islands ). Mới đây Trung Quốc liên tiếp cáo buộc Việt Nam vi phạm chủ quyền khi ký kết dự án 2 tỷ dollars với hãng dầu British Petrolium để khai thác quặng mỏ khí các đảo gần Trường Sa. Biển Đông không nằm im, biển Đông sẽ dậy sóng vì những tranh dành quyền lợi về kinh tế và ảnh hưởng quân sự. Việt Nam , Trung Quốc và Hoa kỳ hiểu rỏ điều này, vì vậy cả hai Trung Quốc và Hoa Kỳ ve vản Việt Nam .

Việt Nam cũng có nhu cầu phải tìm đồng minh. Nếu dựa vào Trung Quốc thì hoạ mất nước có thể xảy ra trước tham vọng bành trướng. Ngược lại, đi hẳn với Mỹ, Hà Nội sợ bị ảnh hưởng của xu hướng dân chủ hoá, làm yếu đi chính quyền chuyên chế. Do đó, Việt Nam, về đối ngoại, cần một chính sách ngoại giao đi dây, về đối nội chính sách này phải thể hiện sự cân bằng giữa nhiều khuynh hướng chính trị trong Đảng. Một mặt quỵ luỵ Trung quốc để tránh các áp lực đè nặng sát nách, mặt khác nắm bắt các thăm dò của Hoa Kỳ để làm đối trọng, mặc cả đôi bên. Ưu tiên, vẫn phải giữ chính quyền độc đảng.

Đi Dây với Siêu Cường

Gần đây, Hoa Kỳ hứa hẹn viện trợ vũ khí, tập trận chung trên biển Đông và huấn luyện quân sự cho Hà Nội nhằm kéo Hà nội đến gần với Hoa Thịnh Đốn. Chính ông Zoellick đã tiết lộ Hoa Kỳ ra mặt ủng hộ Việt Nam vô Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vì Hoa Kỳ cho rằng Việt Nam đã có những chứng tỏ tiến bộ về mặt cải cách, nhân quyền lẫn tự do tôn giáo.

Thực chất, Hà Nội không chủ trương cải cách và hẳn điều này Washington cũng thừa biết. Tuy nhiên trước nhu cầu phải chứng tỏ thiện chí về cải tổ chính trị để gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hà Nội chủ trương đi bước lùi. Chính sách ngoại giao du kích chiến được Hà nội áp dụng đối với Mỹ và thế giới. Trong suốt năm 2005 và 2006, Hà nội đã ngậm bồ hòn để nhìn các lực lượng dân chủ từng bước trỗi dậy. Hệ thống công an được lệnh ém quân, không ra tay đàn áp, tạm án binh bất động để đạt các mục tiêu lâu dài. Nhờ vậy, phong trào dân chủ đã phát triển, nhiều nhà dân chủ xuất hiện, nhiều phong trào ra đời, báo chí mạng, báo in phát hành, các đảng phái, phong trào, hiệp hội nắm bắt cơ hội công khai, thậm chí một số nhà dân chủ còn được mời đến sứ quán Hoa Kỳ để ăn mừng ngày lập quốc của Hoa kỳ.

Hà Nội liên tiếp đạt thắng lợi, được Hoa Kỳ lấy tên ra khỏi danh sách các quốc gia cần quan tâm về đàn áp tôn giáo (CPC), vô Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và được quy chế bình thường hóa quan hệ thương mại vĩnh viễn (PNTR). Mãi đến cuối 2006, mọi chuyện ở thế bất khả vãn hồi thì Hà Nội trở mặt. Sau khi nắm chắc các phần thắng trong tay, đạo quân công an, cảnh sát bắt đầu phản công mà không ngại dư luận phản ứng.

Nếu trước kia họ để cho các nhà dân chủ đến sứ quán Mỹ ăn mừng, chụp ảnh, tuyên bố, chứng tỏ thái độ cởi mở chính trị thì chỉ trong vòng vài tháng sau hội nghị APEC chấm dứt, Hà Nội liền có thái độ cứng rắn. Thời điểm để đàn áp lại là một vấn đề khác có tính nội bộ. Tuy nhiên sự kiện họ công khai trấn áp thể hiện tính nhất quán của chế độ toàn trị. Gia đình các nhà dân chủ bị ngăn chận khi đại sứ Mỹ, Michael Marine đích thân mời đến nhà. Dân biểu Mỹ, bà Loretta Sanchez từ Hoa Kỳ sang thăm, Hà nội không cho tiếp xúc các nhà đối kháng và gia đình của họ. Hàng loạt nhà dân chủ trước kia được mời công khai đến sứ quán thì nay bị cô lập, sách nhiễu hoặc ngồi tù. Hà nội biết rõ sẽ bị phản ứng về công luận, nhưng họ tự tin vì cũng chỉ là những phản ứng có tính cách biểu tượng. Về kinh tế, Hà nội đang đạt những thành quả, đang trở thành đối tác song phương với Hoa Kỳ, các hiệp ước, qui chế về thương mại đã nằm trong tay. Thậm chí họ đang nắm vị thế “đắc lợi” vì sách lược ngăn chận mà Mỹ đang cần Hà nội làm đồng minh.

Chiến Lược của Hoa Kỳ

Việt nam hiện đang xích gần với Hoa kỳ. Hiệp ước về huấn luyện quân sự (International Military Education and Training) giữa hai nước đã được ký kết. Thực chất chỉ là ngôn ngữ ngoại giao. Hà Nội và Hoa Kỳ thêm chử giáo dục và huấn luyện để làm nhẹ bớt tầm vóc của hiệp ước, tránh khiêu khích và làm Trung Quốc lo ngại.

Bề trái của những ngôn từ ngoại giao là những gì đang diễn ra về lãnh vực quân sự mới là mối quan tâm của Trung Quốc. Dĩ nhiên, trên bình diện an ninh vùng và vai trò Trung Quốc ở Đông Nam Á, một Việt Nam thân Mỹ, chịu ảnh hưởng của Mỹ, và được Mỹ trang bị quân sự là điều Trung Quốc không thể chấp nhận.

Bài học lịch sử vẫn còn ghi đậm máu cũa những binh sĩ Trung - Việt đổ ra dọc theo biên giới. Các cuộc tấn công và tàn phá nát tỉnh Lạng Sơn của quân đội Trung quốc không thể một sớm quên được. Thái độ “ăn cháo đá bát” của Hà Nội đã từng làm Đặng Tiểu Bình giận tím mặt mỗi khi nhắc đến hai tiếng Việt Nam . Khuynh hướng ngã theo Hoa Kỳ gần đây của lãnh đaọ đảng CSVN làm cho Trung Quốc hồi tưởng lại lúc Lê Duẫn vội vã đi Moscow, để ký kết hiệp ước song phương quân sự Việt-Sô, làm lò lửa quân sự của Trung-Việt nóng lên. Vì vậy, những bước đi dọ dẫm của Hà Nội với Hoa Kỳ chỉ là sự lập lại chiến lược đối đầu thập niên 70. Nếu có khác thì người anh cả để Hà nội dựa lưng không còn là Liên Sô vĩ đại, mà chính là tên đế quốc đầu sỏ Mỹ.

Hoa Kỳ muốn ảnh hưởng Việt Nam trên cả kinh tế lẫn quân sự. Nguyên một vùng ở phiá Nam Trung Quốc, cửa ngõ xuống Đông Nam Á, chỉ Việt Nam đủ khả năng ngăn chận. Những mâu thuẩn có tính lịch sử, những đụng độ quân sự, vị trí chiến lược của Việt nam đối với Đông Nam Á về đất liền lẫn biển Đông, kinh nghiệm đối đầu của Việt Nam với Trung quốc, thêm quá khứ bị đô hộ và nghi ngờ dã tâm bành trướng. Việt Nam giữ vị trí hoàn hảo nhất để làm con chốt trong bàn cờ kinh tế, chính trị và quân sự. Vì vậy, trong mắt cũa những chiến lược gia Hoa Kỳ, họ không nghi ngờ về tầm nhìn và tính đúng đắn của chiến lược be bờ. Báo cáo thứ trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ trước Ủy ban Quan hệ Thế giới thuộc Quốc Hội “Việt Nam đang trở thành đối tác quan trọng đối với Mỹ ở khu vực Đông Nam Á trong những năm sắp tới” (1) Cùng với những chuyển động ngoại giao của hai nước, thể hiện rõ chính sách của Mỹ đối với Việt Nam.

Trong cuộc đìều trần trước quốc hội về quan hệ Việt-Mỹ, khi hỏi thái độ Việt Nam thế nào về khả năng hợp tác quân sự giữa hai nước. Liệu họ có quên đi quá khứ của cuộc chiến Mỹ-Việt để nhắm đến tương lai hay chưa? Ông Đô đốc Hải quân Hoa kỳ, Dennis Blair trả lời “Những người Việt Nam đang giữ vị trí cao cấp trong lãnh vực quân sự đều nhắm đến tương lai, những hợp tác trong quá khứ cũng như hiện nay giữa hai nước chỉ có mục tiêu ôn cố để tri tân”

Ở đây, quan niệm của Đặng Tiểu Bình và Hoa kỳ giống nhau. “Mèo trắng hay đen gì cũng được miễn bắt được chuột”. Điều này đồng nghĩa với chiến lược của Mỹ, “Dân chủ hay độc tài không phải vấn đề, quan trọng là chính quyền đó có cùng mục tiêu hay không”

Vì vậy, đối với Nhà Trắng, Việt Nam dân chủ hay độc tài không phải là mối bận tâm. Một Việt Nam thuần phục, chấp nhận vai trò con chốt, làm đồng minh quân sự chính là điều Hoa Kỳ muốn nhắm đến. Do đó, những nhượng bộ của Mỹ trước hội nghị APEC đủ xác nhận bản chất của chính quyền George Bush. Thực ra, điều này cũng chỉ thể hiện quan niệm thực tiển về chính trị của người Mỹ, cho dù đảng Cộng Hoà hay Dân Chủ có nắm chính quyền.

Khi nắm chức Bộ trưởng Bộ ngoaị giao, bà Condoleezza Rice đã vạch ra sách lược ngoại giao của chính phủ Mỹ trong vùng Đông Nam Á như sau: “Ổn định trước nhất để nắm bắt cơ hội và sau đó mới thúc đẩy và khuyến khích nền tự do quốc gia. Chính sách này cần được thực hiện trong quan hệ đa phương và hợp tác song phương.” (2)

Vai Trò Con Chốt Việt Nam

Việt Nam đã từng đi dây rất khéo để làm vừa lòng Trung Quốc và Liên Sô trong thời chiến tranh chống Mỹ. Giờ đây họ phải lật lại bài bản đó để học. Trước khi ông Chủ tịch nước Việt Nam đi Mỹ, Nguyễn Minh Triết đã đến Trung Quốc. Cũng cần nhắc lại là khi Bộ trưởng ngoại giao Phạm Gia Khiêm đến Hoa Thịnh Đốn, Khiêm đã phải ghé thăm Bắc Kinh rồi mới về Hà Nội. Nó là một hình thức triều cống của thế kỷ 21 mà một chính phủ độc tài, chuyên chế không do dân bầu, không mang tính chính thống nên đối ngoại thì nuốt nhục, đối nội thì độc đoán, trơ lỳ. Thiếu sức mạnh dân tộc, sức mạnh nền tảng để giữ nước khi biến loạn. Chế độ Hà nội không đủ sức tự vệ, giữ lấy chính quyền nếu có quốc biến. Trong bối cảnh đó, một cuộc chiến tranh quốc gia xãy ra, thắng bại đã phân minh.

Về phía Hoa kỳ, chiến lược “lưởng cực” nhằm sử dụng Việt Nam để ngăn chận ảnh hưởng Trung Quốc không mới mẻ gì. Nó chỉ lập lại quan niệm cũ của thời chiến tranh nóng. Sau nhiều thập niên nắm cây gậy thần chiến tranh, Hoa kỳ vẫn không thay đổi quan niệm chiến lược quân sự. Dựa vào khả năng tối tân, trông cậy nơi sức mạnh vũ khí hiện đại. Hoa kỳ chỉ có thể thắng ở chiến thuật thần tốc, tìm diệt, nhưng không bảo đảm yếu tố giữ quân lâu dài. Chiếm thành dễ, giữ thành mới khó. Những diễn biến quân sự từ xưa và cận đại của quân sử Hoa kỳ chứng minh điều này. Thất bại sau cuộc chiến Việt Nam , sa lầy ở A Phú Hãn và Iraq là bài học cụ thể. Với bản tính thực dụng, và chưa bao giờ bị ngoại xâm, người Mỹ quên mất yếu tố để thắng trong chiến tranh, ngoài sức mạnh về vũ khí, ý chí dân tộc tự quyết mang yếu tố quyết định.

Vì vậy, tham vọng trang bị quân sự cho VN nhằm cầm chân Trung quốc không phải là sách lược tối ưu. Cho dù Hoa Kỳ tân trang tận răng, Việt Nam không phải là đối thủ của Trung Quốc. Một Việt Nam mạnh về quân sự chỉ làm tăng thêm sự khiêu khích đối với Trung Quốc, gây ảnh hưởng không an tâm cho các quốc gia Đông Nam Á, đồng thời tạo cơ hội để chế độ độc tài tiếp tục đàn áp, đối đầu với khát vọng dân chủ. Về mặt đạo đức, Hoa kỳ đang tiếp tay cho Việt Nam để củng cố chính quyền toàn trị, đi ngược lại xu hướng của nhân dân: một Việt Nam tự do và dân chủ. Nói cách khác, vì quyền lợi quân sự, chính phủ Hoa kỳ nuôi dưỡng chế độ độc tài khi viện trợ quân sự, vũ khí cho Việt Nam .

Trung Quốc đang trổi dậy như một cường quốc về kinh tế lẫn quân sự sau hai thập niên canh tân. Những khoản tiền khổng lồ nhằm hiện đại hoá quân sự từ sau cuộc chiến Trung Việt, không riêng Việt Nam mà Mỹ cũng lo ngại. Theo ước lượng của giới tình báo, năm ngoái, Trung quốc chi tiêu cho quốc phòng đã gần 45 tỷ dollars. Với những mâu thuẩn, tranh dành quyền lợi về kinh tế, lãnh hải giữa các quốc gia Đông Nam Á, chạm trán quân sự Việt Nam và Trung Quốc có khả năng xảy ra, vì hai nước có chung một biên giới và từng mâu thuẩn sâu sắc về lịch sử.

Thượng sách, Trung quốc làm kiệt quệ Việt Nam bằng chiến tranh kinh tế, môi trường và chính trị. Hàng giả, hàng nhái, hàng rẻ đã ào ạt vượt biên giới tràn ngập Việt Nam từ nhiều năm nay. Số lượng tiền giả lưu hành tại Việt Nam hết sức tinh vi, tiền giấy nhựa polymer nhà nước cộng sản vừa phát hành thì vài tháng sau thị trường đã lưu hành tiền giả. Trình độ kỷ thuật in, tầm vóc và nguồn phát hành công an Hà nội biết nhưng vẫn ngậm tâm. Các dự án xây dựng đê điều của Trung Quốc, ngăn chận lượng nước chảy xuống phiá Nam có nguy cơ kiểm soát và tác động môi trường, làm thiếu nước hoặc ngập lụt nếu cần. Mới đây các vùng biển Việt Nam đã bị ô nhiễm nặng vì dầu loang xuất phát từ phiá Bắc. Nhiều khu vực du lịch đã bị ảnh hưởng trầm trọng, chưa tính đến những hậu quả lâu dài về môi sinh cho tôm cá, làm thiệt hại trử lượng và khả năng đánh bắt thuỷ sản dọc bờ biển Việt Nam nhiều chục năm về sau. Về chính trị, liên tục cho tay sai, phe nhóm gây khủng hoảng nội bộ, tạo các biến động giả, tung các vu cáo vì an ninh nội bộ để đàn áp dân chủ và các khuynh hướng tiến bộ, nhằm đẩy Việt Nam xa dần ảnh hưởng Mỹ.

Hạ sách, tấn công trực diện. Tuy nhiên, thế giới ngày nay không thuận lợi cho một cuộc chiến tranh xâm lăng lâu dài. Những chạm trán quân sự ngắn hạn, nhanh chóng tấn công toàn diện để triệt hạ, tàn phá rồi rút lui là những chiến lược quân sự Trung Quốc toan tính. Cuộc chiến Việt Trung là thí dụ thuyết phục, bất ngờ tấn công, tàn phá và nhanh chóng rút lui để tránh sa lầy và sức ép dư luận thế giới. Đây là những chiến lược quân sự, con cháu Tôn Tử đang thực hiện, không những áp dụng đối với Việt Nam mà ngay cả đối với các quốc gia khác. Trung quốc thừa hiểu, họ có thể bất ngờ tấn công Việt Nam nhưng không thể xâm lăng lâu dài. Cả ngàn năm trước họ đã thất bại thì hiện tại hay tương lai không khác biệt. Tuy nhiên, một chính quyền Việt Nam độc tài, yếu kém về cai trị, mất lòng dân sẽ tạo cơ hội cho Trung Quốc làm suy yếu và tấn công hủy diệt. Ngược lại một chính thể tự chủ, do dân bầu và tiềm ẩn sức mạnh dân tộc, Trung quốc sẽ thất bại nếu có tham vọng xâm lăng.

Các chính sách dựa vào sức mạnh quân sự để đối đầu ẩn chứa những hiễm hoạ xung đột. Hay hỗ trợ chính quyền độc tài, một chính quyền không đại diện cho dân, không do dân bầu, để tìm kiếm lợi ích quốc gia chỉ đắc dụng ngắn hạn, không bền vững và lâu dài.

Chính quyền, đảng phái chỉ là phương tiện, dân tộc mới là cứu cánh. Một Việt Nam tự do dân chủ, phát triển về kinh tế, độc lập về chính trị và quân sự, chính là mục tiêu mà Việt Nam và Hoa Kỳ cần quan tâm.

California - Ngày 10 tháng 5 năm 2007 – Ngày đảng viên ĐảngDCND bi tuyên án tù vì đấu tranh cho Nhân quyền - Tự do - Dân chủ cho Việt Nam .

---------

(1) “Viet Nam is also emerging as a regional player, a role that will be increasingly important to U.S. interests in East Asia in the coming years.”

(2) Eric G. John, Deputy Assistant Secretary, East Asian and Pacific Affairs “Secretary Rice articulated our goals in the region: security, opportunity, freedom. Against this backdrop of favorable trends and challenging issues, we seek to promote policies to achieve the Secretary's goals through strong multilateral and bilateral engagement.”

vendredi 25 mai 2007

TRUYỆN - HỒI KÝ - Biên Khảo & Truyện Ngắn

TRUYỆN - HỒI KÝ

- Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (1)
Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (2) (3) (4) (5-6) (7) (8) (9) (10) (11) (12)

--------------------------------------------------------------------

- Hồi ức và Suy nghĩ - Trần Quang Cơ
- Đêm giữa ban ngày - Vũ Thư Hiên
- “Kẻ bị vạ tuyệt thông” (I) NMT luat su Nguyen Manh Tuong
- Trại súc vật - George Orwell
- Quan điểm và Cuộc sống - Nguyễn Hộ
- Xem "Journey from the Fall" online đây
- Hồi Ký Thép Đen của Đặng Chí Bình

- Sách đen về chủ nghĩa cộng sản - tội ác, khủng bố và đàn áp"
- Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản
- Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
- Vài nét về Khác biệt giữa chủ nghĩa Mác Lê Nin và chế độ tự do dân chủ thật sự
- Les vingt-et-une conditions d'admission des Partis dans l'Internationale Communiste
- QHT: Thủ đoạn tuyên truyền xảo trá của VC
- Stalin (1878–1953): Mặt trái chiếc huân chương
- Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản (tóm tắt)

- Tu Thuc Dan Den CS cua? Ho.c Gia?: Hoang Va(n Chi'
- Ho Chi' Minh nhâ.n -Di.nh Tông? Ho*.p cua? nhà Biên Khao? Minh Vo~
- Sách Tran Dan Tien la ia (viet bang tieng Anh)
- Trần Dân Tiên và Hồ Chủ tịch (1946) (1-2)
- Vừa đi đường vừa kể chuyện - HCM-T Lan (1)
- Lời truyền miệng dân gian về một vài số phận bi kịch

- Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam (I)
- Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Cộng Sản vào Việt Nam (Kết)

--------------------------------------------------------------------
Bài viết hay:
- * Những thủ đoạn của csvn đối với tôn giáo
- Chia rẽ, bịa đặt, ngón bài muôn thưở của cộng sản
- Láo như Vẹm - Láo như Vẹm
- Bệnh tự "bơm vá" cho mình và tệ sùng bái cá nhân
- Stalin (1878–1953): Mặt trái chiếc huân chương
- Thầy tu quốc doanh ôm
- Chính Sách Diệt Tôn Giáo Của Cs Từ Liên Xô Đến Việ...

- SAO HỒ CHÍ MINH LẠI BỊ COI LÀ QUỈ NHẬP TRÀNG
- Người đồng minh dũng cảm
- Hoàng Minh Chính và Chủ Nghĩa xét lại
- Tổng thống Bush: Ðã đến lúc để trao quyền độc lập ...
- Dân Chủ Giả Vờ
- Thử Đi Tìm Nguyên Nhân Tại Sao Cụ Phan Thanh Giản ...
- Một cuộc chiến tranh lạnh mới
- Sai lầm có tính toán?
- Cảm nhận từ mốc lịch sử tháng Sáu 1989
- Sách Lược Xâm Lăng Của Cộng Sản

--------------
- Hiệp định sơ bộ Xuân Bính Tuất Minh Võ
- Trần Đức Thảo Bị Cộng Sản Đầu Độc? Minh Võ
- Ngàn giọt lệ rơi - DangMy Dung
Ngàn Giọt Lệ Rơi là tựa cuốn hồi ký của chị Đặng Mỹ Dung (Yung Krall). Gia đình của chị Dung là một trong những gia đình bị cuộc chiến tranh ý hệ Quốc-Cộng chia cắt làm hai. Bố chị Mỹ Dung - ông Đặng Văn Quang giữ chức đại sứ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Liên Xô. Anh lớn nhất của chị Mỹ Dung là một sĩ quan bắn tên lửa của miền Bắc. Em út chị Mỹ Dung là sĩ quan lái trực thăng trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Còn chị Mỹ Dung?

--------------
- Trung Cộng - CSVN Cắm Cột Mốc Biên Giới 2008
- Ông Hồ mấy vợ? (I)
- Ông Hồ mấy vợ? (Kết)
- Việt Minh là gì?
- Thủy Quân Nhà Nguyễn - Thủy Quân Nhà Nguyễn (Kết)
- Văn Tế Anh Linh Tử Sĩ Hoàng Sa
- Biên Khảo & Truyện Ngắn Ly Tuan
- http://hon-viet.co.uk/
- Cái Học và Cái Không Đáng Học (I)
- Con tố cha, vợ tố chồng
- Stalin - Hồ, 50 Năm: Lịch Sử Tái Diễn ? Con tố cha ..

http://www.youtube.com/watch?v=ydlge1W7uic&mode=related&search=

--------------------------------------------------------------------
Theo chuyên mục:

- * (Lịch sử: click here)
- (Chiến tranh: bản chất - mục đích : di sản và tội ác : click here)
- (Quan hệ đu dây của csvn (L Xô, TC, Mỹ) và Hệ Qủa Sách lược Thực dân đỏ )
- * ( Bản chất cộng sản : Click here )
- * Những thủ đoạn của csvn đối với tôn giáo

--------------------------------------------------------------------
web khac:
- Văn Hóa Hồ Chí Minh
- Những điều sai lầm của Đảng Cộng Sản Việt Nam
- Mối liên quan giữa HCM, Đảng CSVN và Đệ Tam Quốc Tế
- http://freelao.tripod.com/id42.htm tran dan Tien

--------------------------------------------------------------------
Tài liệu quốc nội (website)

Hồ Chí Minh toàn tập - tập 2 năm 1924
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1924
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1923
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1922
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1921
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1919
Hồ Chí Minh toàn tập - tập 1 năm 1920

--------------------------------------------------------------------
- tham khảo (trich Suu tam)

* SÁCH LỊCH SỬ CẦN ĐỌC
* TRUYEN - BUT KY - LICH SU Online:

Một cơn gió bụi - Hồi ký Trần Trọng Kim (1)

Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (1)

--------------------------------------------------------------------------------

Cụ Trần Trọng Kim (1883-1953), một học giả uyên bác, thủ tướng đầu tiên của Việt Nam (1945), tác giả của cuốn Việt Nam sử lược, có để lại một cuốn hồi ký về thời kỳ lịch sử Việt nam dành độc lập từ tay Nhật. Trong cuốn hồi ký này, cụ cho người đọc nhìn thấy những hành vi không quang minh chính đại của Việt Minh khi dành chính quyền:

Một cơn gió bụi
Lệ Thần Trần Trọng Kim


Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (1)
Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (2) (3) (4) (5-6) (7) (8) (9) (10) (11) (12)


Chương 1 : Cuộc đời yên lặng và vô vị

Sau 31 năm làm việc trong giáo giới, trải làm giáo sư ở trường Trung Học Bảo Hộ và trường Sĩ Hoạn, kế lại sung chức Bắc Kỳ Tiểu Học Thanh Tra, rồi về giữ chức giám đốc trường Nam Tiểu Học ở Hà Nội, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển. Ðó là tâm tình và thân thế của một người ngậm ngùi ở trong cái hoàn cảnh éo le, và trong một bầu không khí lúc cũng khó thở. Ðược cái rằng trời cho người ta có sẵn cái tính tùy cảnh mà an, cho nên bất cứ ở cảnh nào lâu ngày cũng quen, thành ra thế nào cũng chịu được.

Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao lâu.

Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nước nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng.

Thường tôi gặp người Pháp, tôi cũng nói thẳng rằng: nếu trong cái hoàn cảnh này, người Pháp hiểu rõ tình thế mà buông tha chúng tôi ra thì không những là nước Pháp không thiệt thòi gì mấy về đường kinh tế, mà về đường văn hóa và thực tế lại có phần lợi vì đã làm một cái ơn lớn cho cả một dân tộc. Mà thực tế nếu được như vậy thì dân Việt Nam không bao giờ quên được cái ơn ấy, mà vui lòng hợp tác với nước Pháp. Song đó là một cái mộng tưởng không thê có ở trong đời này, là đời đầy những sự tham, sân, si, cho nên nhân loại đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau buồn khổ não. Mà còn phải chịu không biết đến bao giờ mới thôi!

Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người ta theo mình. Người Việt Nam không phải là không hiểu cái tâm địa người Nhật, song có nhiều người muốn thừa cái cơ hội hiện tại mà phá vỡ cái khuôn khổ bé hẹp nó ràng buộc mình đã bao lâu để gây ra cái không khí mới, rồi sau thế nào cũng tìm cách đối phó. Phần nhiều người trí thức trong nước đều có cái quan niệm ấy, nhưng vì thế lực không đủ, cho nên không ai hành động gì cả, trừ một bọn người hoặc vì lòng nóng nảy, hoặc vì lòng ham danh lợi chạy theo người Nhật.

Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu Hóa, dùng những phương pháp quỉ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Ðông đã bị người Âu Châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp", nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào chòng của mình mà thống trị cho dễ, chứ sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.

Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ. Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả.

Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (1)
Một cơn gió bụi - Hồi ký Lệ thần Trần Trọng Kim (2) (3) (4)
(5-6) (7) (8) (9) (10) (11) (12)

Trung Quốc là đối tác chính trị và kinh tế hàng đầu của Việt Nam

Trung Quốc là đối tác chính trị và kinh tế hàng đầu của Việt Nam
2007.05.19

Lãnh đạo Việt Nam một lần nữa khẳng định thêm rằng Trung Quốc là đối tác chính trị và kinh tế hàng đầu của Việt Nam.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tuyên bố như vừa kể khi trả lời cuộc phỏng vấn của báo chí Việt Nam và Trung Quốc ngày hôm qua tại Bắc Kinh.
Ông Nguyễn Minh Triết cũng khẳng định là hai nước thống nhất giải quyết những bất đồng về biên giới một cách hòa bình, hữu nghị và hợp tác thông qua đàm phán.
Về kinh tế, người đứng đầu nhà nước Việt Nam nhấn mạnh đến việc phát triển nhiều dự án thu hút đầu tư nước ngòai, đặc biệt là từ Trung Quốc.
Việt Nam cũng đang dành ưu tiên đặc biệt cho những dự án phát triển “hai hành lang, một vành đai kinh tế” nối liền các tỉnh miền Nam Trung Quốc với miền Bắc Việt Nam.
Cũng vào ngày hôm qua, tại diễn đàn kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, các doanh nghiệp hai nước tham dự diễn đàn đã ký nhiều thỏa thuận hợp tác trị gía hơn 2 tỉ rưỡi đô la.
Tiếng Việt
© 2007 Radio Free Asia
Các tin, bài liên quan
Trung Quốc bán điện sang Việt Nam qua 5 hệ thống truyền tải
Chủ tịch Việt Nam sang thăm Trung Quốc
Trung Quốc phản đối Việt Nam xây dựng hệ thống dẫn khí đốt ở Biển Đông
Chính phủ Việt Nam huỷ bỏ nghị định 31/CP
Bắc Kinh đánh giá cao công tác của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt -Trung

Radio Free Asia
2025 M Street NW, Suite 300, Washington DC 20036, USA 202-530-4900 vietweb@rfa.org RFA Jobs
© 2005 Radio Free Asia

Straits Times: Chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Nguyễn Minh Triết "chính thức tạm ngưng" (vao 6/2007)

Nguồn gốc sự dính líu của Hoa Kỳ ở Việt Nam

Nguồn gốc sự dính líu của Hoa Kỳ ở Việt Nam
William L. Griffen, John Marciano
Ngô Ái Hà dịch

Teaching the Vietnam War (Dạy về chiến tranh Việt Nam, Allanheld, Osmun, Montclair, USA, 1979) của hai học giả Mỹ William L. Griffen và John Marciano là công trình khảo sát 28 cuốn sách giáo khoa lịch sử và xã hội học được dùng rộng rãi phổ thông trung học tại Mỹ. Cuốn sách được chia làm hai phần. Trong phần một, gồm 3 chương, hai ông chỉ ra những chỗ chưa chính xác. Phần hai, gồm 3 chương và kết luận, là một bản "Lịch sử vắn tắt cuộc chiến tranh Việt Nam" (A Concise History of the Vietnam War). Các tài liệu được hai tác giả sử dụng để so sánh đối chiếu là những tài liệu rất đáng tin cậy, bao gồm cả các tài liệu của Bộ Quốc phòng và Quốc hội Hoa Kỳ, đặc biệt là The Pentagon Papers (Các tài liệu của Lầu Năm góc, tên đầy đủ là United States-Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense), một tài liệu tuyệt mật của Bộ Quốc phòng Mỹ gồm 47 tập, chứa 4000 trang tài liệu gốc và 3000 trang phân tích về lịch sử cuộc can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Gần như toàn bộ tài liệu này bị tiết lộ và được The New York Times công bố một phần năm 1971.

Dưới đây là chương 4 (chương đầu của phần hai): “Origins of United States Involvement in Vietnam” (tr. 55-62). Các chương 5 và 6 có nhan đề: “The Diem Years: 1954-63 và Escalation-Vietnamization-End of the War”. Tất cả các chú thích là của các tác giả. Các đoạn trích Hiệp định Genève do Ngô Ái Hà dịch, vì thế câu chữ có thể không thật đúng với văn bản chính thức. Người dịch

================

"Hành động can thiệp quân sự đầu tiên của một cường quốc phương Tây vào Việt Nam được công nhận rộng rãi là do một chiến hạm Hải quân Hoa Kỳ, chiếc Constitution, tiến hành năm 1845." Theo sử gia Việt Nam Trương Bửu Lâm, Mỹ can thiệp để giải thoát cho một giám mục người Pháp [1] . Đầu những năm 1800, các nhà truyền đạo Catholic và tàu hàng tàu chiến phương Tây đến Việt Nam, nối tiếp hai ngàn năm xâm lăng hoặc chiếm đóng của người Tàu, người Mông Cổ, người Cambodia. Quá trình thực dân hóa của Pháp bắt đầu từ ngày quân Pháp chiếm Sài Gòn năm 1859, và việc chiếm đóng hoàn tất vào năm 1884.

Sự cai trị của Pháp rất độc đoán và đặc biệt khắc nghiệt đối với nông dân, những người phải chịu đựng chế độ thuế khóa hết sức nặng nề. Người Pháp cũng phải hứng chịu sự căm ghét của một nhóm tuy nhỏ nhưng nhiều ảnh hưởng là những người Việt Tây học (đa số tại Pháp), do họ bị kỳ thị khi trở về Việt Nam làm việc. Họ đóng một vai trò to lớn trong phong trào dân tộc nổi lên từ sau Chiến tranh Thế giới I. Phong trào này cũng được sự ủng hộ của các binh lính và thợ thuyền người Việt bị đưa đi Pháp đánh nhau với Đức. Họ "tiếp xúc với những tư tưởng chính trị và xã hội trái ngược với hệ thống thuộc địa ở nhà" và một số tham gia cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị của người Pháp. Trong những năm 1920, sự đàn áp của Pháp đối với các nỗ lực chống thực dân buộc những người yêu nước Việt Nam phải rút vào bí mật. Sau năm 1930, các hoạt động bí mật tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và Hồ Chí Minh, người sẽ trở thành nhân vật trọng yếu trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam trong bốn mươi năm tiếp theo. Dù vậy, những năm 1930 là thời gian khó khăn, bởi nhiều cuộc nổi dậy bị người Pháp dập tắt và hàng ngàn nhân vật đối lập chính trị bị cầm tù [2].

Trong thời gian thuộc địa, do phong trào dân tộc của người Việt ngày càng tăng lên, thay cho vai trò thực dân chinh phục, người Pháp khoác lấy vai trò bảo vệ "thế giới tự do" chống lại chủ nghĩa cộng sản.

Cũng tương tự như thế, việc Washington gán cuộc đấu tranh của người Việt Nam với Chiến tranh Lạnh được George McTurnan Kahin và John W. Lewis, hai học giả xuất sắc của Hoa Kỳ về Đông Nam Á mô tả như sau:


Trích:
“[Năm 1950] Tổng thống Truman gắn việc đưa quân Mỹ tới Triều Tiên với tuyên bố tăng quân Pháp ở Đông Dương và lập trường của cường quốc Hoa Kỳ giữa Trung Hoa Quốc Dân đảng và Trung Hoa Cộng sản tại eo biển Đài Loan. Phù hợp với những ưu tiên mới của Mỹ như vậy, vị trí của Pháp lúc này được mô tả như là cuộc kháng chiến của Thế giới Tự do chống lại sự xâm lăng cộng sản, và Washington không còn coi cuộc chiến tranh Việt Nam trước hết là cuộc chiến thực dân cục bộ. Được gắn vào Chiến tranh Lạnh, lúc này Việt Nam trở nên có tầm quan trọng chiến lược đối với Hoa Kỳ" [3].

Trước lập trường Chiến tranh Lạnh đầu thập kỷ 1950, chính sách của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Franklin D. Roosevelt là tạo ra cho công chúng hình ảnh một nước Mỹ ủng hộ quyền tự quyết dân tộc, nhưng trên thực tế lại ủng hộ chủ nghĩa thực dân. Trong trường hợp Đông Dương, tài liệu The Pentagon Papers của chính phủ Mỹ mô tả chính sách của Mỹ đối với Đông Dương là "nước đôi" (ambivalent). Hàng loạt thư tín của F. D. Roosevelt và các tuyên bố chính thức cấp cao Mỹ với chính phủ Pháp cho thấy Hoa Kỳ có "ý định sau chiến tranh sẽ phục hồi cho người Pháp đế quốc của họ ở hải ngoại". Tháng 11 năm 1942, trong lá thư gửi tướng Henri Giraud, đại diện cá nhân Franklin D. Roosevelt đảm bảo với nhà lãnh đạo Pháp: "Chúng tôi hiểu rất rõ rằng chủ quyền của Pháp phải được tái lập sớm nhất trong chừng mực có thể trên toàn bộ lãnh thổ, cả ở chính quốc lẫn thuộc địa, nơi cờ Pháp đã tung bay trong năm 1939" [4]. The Pentagon Papers kết luận: "Như vậy Đông Dương dường như được giao phó cho ý chí của người Pháp" [5].

Quan điểm chính thức đang rõ dần của Mỹ về Việt Nam được phản ánh trong những bức điện trao đổi giữa Washington và Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, Patrick J. Hurley, năm 1945. Ngày 28 tháng Năm, Hurley điện cho Truman:


Trích:
“Phái đoàn Mỹ tại San Francisco có vẻ ủng hộ thuyết kiểm soát đế quốc đối với các thuộc địa... bằng từng nước hoặc sự kết hợp các nước đế quốc... Có một ý kiến đang tăng lên khắp châu Á cho rằng Mỹ ủng hộ chủ nghĩa đế quốc chứ không phải là dân chủ” [6].

Năm 1940, Nhật chiếm Việt Nam thông qua một hiệp ước trong đó Pháp trao cho Nhật quyền lực tối cao và chỉ còn nắm các vấn đề ở địa phương. Tháng 5 năm 1941, Hồ Chí Minh liên kết các nhóm yêu nước bí mật khác nhau vào tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng minh, hay Việt Minh. Việt Minh, tổ chức lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân và chống Nhật, về bản chất là "một mặt trận dân tộc chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Đông dương lãnh đạo, nhưng có mục tiêu thu hút người Việt Nam yêu nước thuộc mọi màu sắc chính trị vào cuộc đấu tranh chung chống Nhật và Pháp". Trong chiến tranh, Việt Minh vẫn hoạt động bí mật. Với tư cách lực lượng chống Nhật quan trọng nhất họ nhận được trợ giúp của Mỹ thông qua OSS, tiền thân của CIA. Họ đóng góp vào chiến tranh bằng cách tổ chức cứu giúp các phi công Mỹ và cung cấp thông tin về quân Nhật. Khoảng năm 1945, Việt Minh đã kiểm soát hầu hết miền Bắc Việt Nam và là lực lượng kháng chiến chủ chốt. Hai ngày sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Việt Minh chiếm Hà Nội mà không gặp phải sự kháng cự nào. Khoảng tháng 9 năm 1945, họ đã đánh bại liên quân thực dân Nhật-Pháp [7].

Ngày 2 tháng 9, 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DRV). Như vậy Việt Nam (miền Bắc và miền Nam) trở thành nước thuộc địa đầu tiên thiết lập chính quyền dân chủ nhân dân sau Chiến tranh Thế giới thứ II [8] . Hồ Chí Minh mô tả cuộc đấu tranh cách mạng dân tộc chủ nghĩa:


Trích:
“Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập... Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” [9].

Nền độc lập này đã không kéo dài lâu. Hiệp ước Potsdam giữa Anh, Trung Quốc, Liên Xô và Hoa Kỳ cho phép quân Anh và quân Trung Quốc chiếm đóng miền Nam và miền Bắc Việt Nam. Họ có nhiệm vụ bắt và tước vũ khí quân Nhật và giải phóng tù binh Đồng minh. Nhưng quân Anh cũng thả và tái vũ trang cho 5000 binh sĩ Pháp đang bị Nhật giam giữ. Lực lượng này nhanh chóng tổ chức cuộc đảo chính ngày 23 tháng 9, cướp chính quyền Sài Gòn từ tay Việt Minh. Cuộc đảo chính này dẫn đến đụng độ vũ trang giữa Việt Minh với quân Anh, Pháp và Nhật. Một lực lượng tăng cường của Pháp được đưa tới tham gia vào cuộc tranh chấp và đến cuối năm 1945 họ đã có 50000 quân tại miền Nam Việt Nam [10].

Có một khoảng thời gian tạm lắng trong cuộc tranh chấp giữa Pháp và Việt Minh. Tháng 3 năm 1946, Pháp ký một hiệp ước với Hồ Chí Minh trong đó Pháp "công nhận nước Cộng hòa Việt Nam là một quốc gia tự do, có Chính phủ, Quốc hội, Ngân khố, Quân đội, nằm trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp" và như vậy đã xác nhận Chính phủ Hồ Chí Minh là "chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam" [11]. Thế nhưng, gần như ngay sau đó Pháp rút lại sự công nhận của họ đối với chủ quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Điều này diễn ra vào tháng 6, khi Pháp lập nên "một chính phủ bù nhìn riêng rẽ [ở miền Nam Việt Nam] và công nhận đó là một “nước cộng hoà tự do'". Căng thẳng do hành động đó gây ra cuối cùng bùng nổ thành xung đột vũ trang khi hải quân Pháp nã pháo vào cảng Hải Phòng ngày 23 tháng 11, giết chết khoảng 6000 dân thường. Việt Minh trả đũa trong tháng 12 bằng cách tấn công lính Pháp tại Hà Nội và chiến tranh nhanh chóng trùm lên khắp Việt Nam [12]. The Pentagon Papers không đả động gì đến điểm cực kỳ mấu chốt này và chỉ đơn thuần thông báo rằng "chính phủ DRV rút lên miền đồi núi và chuyển sang tình trạng một nhà nước vô hình". "Vấn đề ai là kẻ gây chiến chưa bao giờ giải quyết được" [13].

Philippe Deviliers, giám đốc Nan Nghiên cứu Đông Nam Á của Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế Paris, đưa ra một kết luận chắc chắn hơn:


Trích:
“Vì những lý do hoàn toàn cơ hội chủ nghĩa, Hoa Kỳ đã không nói với Pháp rằng Pháp không thể bỏ qua chính phủ hợp pháp của Việt Nam, và đặc biệt là không nên tìm kiếm một giải pháp thay thế, thông qua ‘Việt Nam hoá’ chiến tranh. Trên thực tế, Hoa Kỳ đã đồng ý với chính sách đó của Pháp, và như vậy từ bỏ mọi nguyên tắc đạo lý. Khía cạnh cốt lõi, nền tảng này của câu chuyện hoàn toàn không được nói đến trong The Pentagon Papers, và vì vậy trên thực tế hoàn toàn bị bưng bít đối với công chúng Mỹ.” [14]

Trong những năm 1950, sự trợ giúp của Mỹ đối với chính sách của Pháp ở Việt Nam có hình thức cụ thể hơn.


Trích:
“Nguồn viện trợ cho chiến dịch quân sự của Pháp tại Việt Nam tăng nhanh chóng từ khoảng 150 triệu/ năm (1950) lên 1 tỷ dollar trong năm 1954, khi Hoa Kỳ đảm bảo 80 phần trăm chí phí chiến tranh. Ngày 6 tháng 4 năm 1954, Hoa Kỳ tuyên bố rằng viện trợ của họ cho Đông Dương trong năm tài chính sắp tới sẽ tới 1,33 tỷ. Con số này bằng một phần ba chương trình viện trợ nước ngoài của Mỹ và vượt xa các khoản viện trợ khác. Trong số này, 800 triệu "dành cho nước Pháp" để "trợ giúp trực tiếp" cho các lực lượng của khối Liên hiệp Pháp tham chiến tại Đông Dương, 300 triệu để mua trang tiếp bị cho các lực lượng này và 30 triệu để trợ giúp về kinh tế và kỹ thuật.” [15]

Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ đáng ra đã có thể thấy rõ tính vô hiệu của các nỗ lực phản cách mạng ấy, nếu như họ lắng nghe các nguồn tin tình báo của chính họ. Tại cuộc điều trần trước Quốc hội Mỹ ngày 11 tháng 5, 1972, Abbot Low Moffat, người đứng đầu Vụ Đông Nam Á, Bộ Quốc phòng, nhớ lại những hành động trong quá khứ:


Trích:
“Tôi chưa bao giờ gặp một người Mỹ nào, dù là quân nhân, OSS [Office of Strategic Services, tiền thân của CIA], nhân viên ngoại giao, hay nhà báo mà sau khi gặp Hồ Chí Minh không có cùng một niềm tin: rằng Hồ Chí Minh trước hết và trên hết là một người dân tộc chủ nghĩa (nationalist). Ông cũng là người cộng sản và tin rằng chủ nghĩa cộng sản đem lại những điều tốt đẹp nhất cho nhân dân Việt Nam. Nhưng lòng trung thành của ông là dành cho nhân dân Việt Nam. Khi tôi ở Đông Dương, đáng kinh ngạc là đội ngũ các quan chức Pháp có thẩm quyền cao nhất cũng hầu như nhất trí với cách nhìn nhận đó. Thực tế là, nếu không thỏa hiệp với Hồ Chí Minh thì chỉ còn cách chà đạp lên tinh thần dân tộc, bởi theo quan sát của tôi chẳng có một giải pháp khả dĩ nào khác có thể áp dụng. Bất kỳ chính phủ nào khác được Pháp công nhận cũng chắc chắn là bù nhìn (puppets) của người Pháp và không thể có được lòng tin yêu của dân chúng.” [16]

Tháng 5 năm 1954, bất chấp trợ giúp của Mỹ cho những nỗ lực của Pháp nhằm đè bẹp cuộc đấu tranh của vì độc lập của người Việt Nam, sức mạnh quân sự Pháp bị một thất bại quyết định tại Điện Biên Phủ. Cuộc Chiến tranh Đông Dương của Pháp chấm dứt.

Trong tháng 1 và tháng 2 năm 1954, hội nghị Ngoại trưởng bốn cường quốc tại Berlin quyết định bảo trợ cho hội nghị chín bên tại Genève về Đông Dương (gồm Mỹ, Liên Xô, Anh, Pháp, Lào, Cambodia, Việt Minh do Hồ lãnh đạo, chế độ Bảo Đại, tay chân [nguyên văn: client] của Pháp ở miền Nam Việt Nam, và Trung Quốc). Hiệp định Genève, ký kết vào mùa hè năm 1954, thiết lập một ranh giới ngừng bắn gần vĩ tuyến 17 để hai bên rút quân, người Pháp về phía nam, Việt Minh về phía Bắc. Người Pháp tập kết để sau đó rút về nước và khoảng năm 1956 một cuộc tổng tuyển cử phải được tổ chức để chọn ra chính phủ hợp nhất.

Vĩ tuyến 17 không chia đôi đất nước. Chương một, điều 1, của Hiệp định Genève quy định: "Một đường ranh giới quân sự tạm thời được vạch ra để lực lượng của hai bên tập kết về hai phía sau khi rút quân" [tác giả nhấn mạnh]. Mục 6 của tuyên bố cuối cùng quy định rằng: "đường ranh giới quân sự là tạm thời và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được coi là biên giới lãnh thổ hay chính trị". [17]

Các điều khoản quan trọng khác của Hiệp định ghi rõ:


Trích:
Điều 16: Nghiêm cấm việc đưa quân đội và nhân viên quân sự vào Việt Nam.

Điều 17: Nghiêm cấm đưa vào Việt Nam các loại vũ khí, đạn dược và thiết bị chiến tranh, như máy bay chiến đấu, tàu chiến, quân nhu, động cơ phản lực và các vũ khí phản lực, xe bọc thép.

Điều 18: Nghiêm cấm thiết lập các căn cứ quân sự mới trên lãnh thổ Việt Nam.

Điều 19: Không được phép thiết lập các căn cứ quân sự dưới sự kiểm soát của nước ngoài trong khu vực tập kết thuộc cả hai bên [18]
.

Hoa Kỳ đã không ký vào bản tuyên bố cuối cùng tại Genève, và đại biểu Mỹ, trợ lý bộ trưởng ngoại giao Walter B. Smith, tuyên bố:


Trích:
“Đối với các điều khoản và thỏa thuận nói trên, 1) Hoa Kỳ sẽ kiềm chế không dùng hay đe doạ dùng vũ lực để ngăn cản, chiểu theo Điều 2 [4] của Hiến Chương Liên Hợp Quốc quy định nghĩa vụ của các thành viên phải kiềm chế dùng hay đe doạ dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế; và 2) Hoa Kỳ sẽ coi mọi hành động gây chiến vi phạm các thoả thuận nói trên là rất nghiêm trọng và đe dọa hòa bình và an ninh thế giới" [19].
Cuộc Tổng tuyển cử 1956 mà Hiệp định nêu lên đã không bao giờ được tổ chức.

Bản tiếng Việt © 2006 talawas

[1]Truong Buu Lam, Patterns of Vietnamese Response to Foreign Intervention: 1858-1900, Monograph Series No. 11, South East Asia Studies (New Haven: Yale University Press, 1967).
[2]George McTurnan Kahin and John W. Lewis, The United States in Vietnam (New York: Dell, 1967), pp. 10-14.
[3]Ibid., p. 29.
[4]U.S. Cong., House, United States - Vietnam Relations, 1945-1967: Study Prepared by the Department of Defense, 12 vols. (Washington, D.C.: GPO, 1971), 1: A-11, A-12, A-13.
[5]Ibid., p. A-20
[6]Quoted in Richard E. Ward, "The Origins of U.S. Intervention in Vietnam," Vietnam Quaterly, No. 1 (Winter 1976), p. 8.
[7]Kahin and Lewis, pp. 15-17.
[8]Ward, p. 8.
[9]Quoted in Noam Chomsky, "From Mad Jack to Mad Henry," Vietnam Quaterly, No. 1 (Winter 1976), p. 17.
[10]Kahin and Lewis, pp. 23, 24.
[11]Philippe Devilliers, "'Supporting' the French in Indochina?," in The Pentagon Papers: Critical Essays, eds. Noam Chomsky and Howard Zinn, GE V, 163. This is the Senator Gravel Edition, The Pentagon Papers: The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam, 5 vols. (Boston: Beacon Press, 1972), hereafter cited as The Pentagon Papers, GE.
[12]Kahin and Lewis, pp. 26, 27.
[13]The Pentagon Papers, GE, I: 22, 47.
[14]Devillier, p. 164.
[15]The New York Times, April 7, 1954.
[16]Quoted in U.S. Cong., Senate, Causes, Origins and Lessons of the Vietnam War, 92nd Cong., 2nd sess. (Washington, D.C.: GPO, 1973), p. 169.
[17]The Geneva Agreements on the Cessation of Hostilities in Viet Nam, July 20, 1954.
[18]Ibid.
[19]Ibid.

Nguồn: Teaching the Vietnam War (chương 4: “Origins of United States Involvement in Vietnam”, tr. 55-62), Allanheld, Osmun, Montclair, USA, 1979

Bản Ghi Nhớ: Chu Ân Lai - Kissinger 1972
CỰU NGOẠI TRƯỞNG TRẦN VĂN LẮM TIẾT LỘ VỀ HIỆP ĐỊNH...
Tìm Hiểu HƯ THỰC " Saigon et moi "

Biến đổi trong quan hệ Việt Xô thời chiến

Biến đổi trong quan hệ Việt Xô thời chiến

Những tài liệu và nghiên cứu được công bố gần đây cho người ta hiểu một cách tinh tế hơn mối quan hệ của Đảng Cộng sản Việt Nam với Liên Xô trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam.

Khác với những tuyên truyền chính thức trước đây rằng quan hệ Việt Xô luôn thắm thiết, những nghiên cứu mới cho thấy tình thân và mâu thuẫn đã là hai mặt của mối quan hệ, và thay đổi theo từng giai đoạn.

Trong tác phẩm vừa xuất bản năm 2006, Mari Olsen, chuyên gia về chính sách đối ngoại thời Xô viết và đang làm ở Bộ Quốc phòng Na Uy, đã trình bày những thăng trầm trong quan hệ Việt Xô và vai trò của Trung Quốc từ 1949 đến 1964.

Sử dụng tư liệu lưu trữ của Nga, tác giả cho biết giai đoạn từ 1962 đến 1964, Liên Xô ngày càng phải dựa nhiều hơn vào thông tin của 'các nước XHCN anh em' để nắm tình hình ở Việt Nam, vì Việt Nam tỏ ra miễn cưỡng trong việc chia sẻ thông tin.

Sự phụ thuộc thông tin của Liên Xô bắt đầu từ mùa thu 1962, khi các viên chức ngoại giao Liên Xô ở Hà Nội ngày càng bị cô lập, và kéo dài cho đến mùa thu 1964, khi sự liên lạc đầy đủ giữa Moscow và Hà Nội được nối lại.

Lạnh nhạt

Cần nhắc lại từ cuối thập niên 1950, ban lãnh đạo đảng Lao Động (tên mà Đảng Cộng sản Việt Nam chọn sử dụng lúc này) phân hóa thành hai nhóm: một ủng hộ chính sách ngoại giao và thống nhất đất nước trong hòa bình, và một nhóm muốn dùng quân sự để thống nhất.

Đến đầu thập niên 1960, sự chia rẽ chính xảy ra giữa cái gọi là nhóm thân Liên Xô và nhóm thân Trung Quốc.

Đến mùa xuân 1962, trong mắt người Nga, Trung Quốc đã tăng mạnh ảnh hưởng ở miền Bắc Việt Nam. Theo số liệu của Moscow, viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Bắc Việt từ 1955 đến 1962 cao hơn cả Liên Xô trong cùng thời kỳ.

Cũng trong thời điểm này, sự quan tâm của Moscow đến Việt Nam tỏ ra thụ động. Phân ban Đông Nam Á của Bộ Ngoại giao Liên Xô, tháng Chín 1962, đề nghị một loạt biện pháp cải thiện quan hệ với Bắc Việt.

Trong đó có đề xuất rằng Tổng bí thư Nikta Khrushchev nên đi thăm Hà Nội. Ban này cũng khuyến nghị Moscow nên quan tâm hơn đến vấn đề thống nhất của Việt Nam.

Nhưng mặc dù bày tỏ ủng hộ Bắc Việt, nhưng trong năm 1962, Liên Xô không làm gì nhiều để thuyết phục bạn của mình rằng họ có thể dựa vào Liên Xô khi khó khăn.

Việc Khrushchev không thăm Việt Nam vào 1962 và cả 1963 cho thấy sự thiếu quan tâm của Liên Xô đến Đông Dương vào lúc này.

Có vẻ như những lo lắng đối ngoại khác, như cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, và sự thiếu hiểu biết thật sự tình hình ở Việt Nam khiến Moscow tự hài lòng với sự chú tâm vừa phải của mình ở Đông Dương. Lúc này họ không xem ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Hà Nội là mối đe dọa thực sự cho quan hệ Việt Xô.

Cô lập

Từ giữa năm 1962, theo Mari Olsen, các đảng viên ở Hà Nội ngày càng tỏ ra thận trọng về mức độ thông tin họ chia sẻ với các viên chức ngoại giao Liên Xô.

Kết quả là Moscow phải dựa nhiều hơn vào thông tin của các đại diện ngoại giao Đông Âu như Ba Lan và Tiệp Khắc ở Hà Nội.

Không khí ở Hà Nội lúc này thay đổi khi người Việt ngày càng đặt nhiều niềm tin hơn vào Trung Quốc. Để có thể cập nhật, Liên Xô phải dùng mọi nguồn tin có được.

Tháng Giêng 1963, chủ tịch Tiệp Khắc, Antonin Novotny, thăm Hà Nội và đưa ra tuyên bố chung nhấn mạnh sự cùng tồn tại trong hòa bình - một quan điểm được Khrushchev cổ vũ.

Sứ quán Liên Xô ở Hà Nội xem đây là sự kiện quan trọng đánh dấu việc Hà Nội tiến lại gần hơn với Moscow.

Nhưng chỉ một năm sau, sau Hội nghị Trung ương lần thứ Chín tháng 12-1963, ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị nhóm thân Trung Quốc loại ra khỏi Bộ Chính trị vì ông này đã ủng hộ tuyên bố của Novotny.

Theo sứ quán Ba Lan ở Hà Nội, thực chất ngay sau khi chuyến thăm của Novotny kết thúc, nhóm thân Trung Quốc đã bắt đầu chiến dịch để làm giảm nhẹ tầm quan trọng chính trị của tuyên bố chung Việt Nam - Tiệp Khắc.
Điều này, cùng nhiều ví dụ khác, cho thấy quan hệ Việt Xô đã xấu đi giữa lúc quan hệ Trung Xô cũng trở nên tồi tệ hơn. Ảnh hưởng tiêu cực của chuyến thăm của Novotny đánh dấu chặng đầu tiên khi Bắc Việt ngả sang Bắc Kinh.

Chuyển hướng sang Bắc Kinh

Hội nghị Trung ương lần thứ Chín năm 1963 là bước đệm cuối cùng, đánh dấu việc Hà Nội tách hẳn khỏi đường lối chính sách đối ngoại của Moscow.

Vào lúc Hội nghị đang diễn ra, vào ngày 25-12- 1963, ông Hồ Chí Minh mời đại sứ Liên Xô ở Hà Nội, Tovmasyan, đến ăn trưa cùng ông, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Xuân Thủy.

Theo lời kể của Tovmasyan mà được lưu trữ trong văn khố Nga, vào cuối bữa ăn, ông Hồ Chí Minh nói ông sẽ 'về nghỉ' vì tuổi cao.

Ông nói công việc về đảng từ nay sẽ do ông Lê Duẩn nắm, Phạm Văn Đồng phụ trách vấn đề của chính phủ, Xuân Thủy về đối ngoại và quốc hội thuộc về trách nhiệm của ông Trường Chinh.

Vì sao ông Hồ Chí Minh lại loan báo việc 'về nghỉ' này với đại sứ Liên Xô?
Có thể đoán rằng đây là cách ông Hồ cảnh báo về ảnh hưởng sút giảm của ông ở Hà Nội và về kết quả sắp đưa ra ở Hội nghị lần thứ Chín. Sự tiếp tục nhấn mạnh của ông Hồ về mối quan hệ gắn bó với Moscow phần nào đó đưa ông trở thành vật chắn cuối cùng trước xu hướng thân Trung Quốc.

Trong nỗ lực tìm kiếm thêm ủng hộ từ Liên Xô, Bắc Việt gửi phái đoàn do ông Lê Duẩn dẫn đầu đến Moscow tháng Hai 1964.

Theo cái nhìn từ Việt Nam, chuyến đi là một thất bại. Nếu ý định ban đầu là giải thích các quyết định đưa ra ở Hội nghị Chín và nhờ người Nga giúp đỡ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam, thì ông Lê Duẩn đã rời Moscow mà không đạt được điều gì.

Quan hệ giữa hai nước đầu năm 1964 khá căng thẳng.

Ngày 27-7-1964, Liên Xô ra tuyên bố dọa từ nhiệm khỏi chức đồng chủ tịch hội nghị Geneva về Lào. Mặc dù lời đe dọa không được thực hiện, nhưng nó thể hiện sự lo ngại và bực bội của Moscow trước việc Bắc Việt quyết tâm theo đuổi chính sách dùng vũ trang thống nhất đất nước.

Từ lạnh nhạt sang đồng chí

Thế nhưng cũng từ giữa năm 1964, quan hệ Việt Xô bắt đầu đầm ấm trở lại.
Vì sao có diễn biến có vẻ trái ngược như vậy?

Sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng Tám 1964, theo Mari Olsen, đã làm biến đổi cái nhìn của Liên Xô về tầm quan trọng của Việt Nam.

Với viễn cảnh Mỹ trực tiếp đưa quân vào Việt Nam, Việt Nam nay trở thành trung tâm của mâu thuẫn Chiến tranh Lạnh.

Đến cuối năm 1964, Liên Xô đã trở thành nhà cung cấp quân sự và kinh tế chính cho Bắc Việt, và bỏ hẳn sự nhấn mạnh đến ngoại giao và thương lượng.
Trong vòng chưa đầy một năm, sự dính líu của Moscow tại Việt Nam đã đổi từ lạnh nhạt sang chủ động can dự.

Mari Olsen dẫn hai lý do chính khiến Bắc Việt nối lại quan hệ đồng minh với Liên Xô. Thứ nhất, viễn cảnh một cuộc chiến trực diện với Mỹ khiến Hà Nội nhận thấy họ phải dựa vào Liên Xô, chứ không phải Trung Quốc, để có khả năng quân sự.

Thứ hai, một sự phụ thuộc duy nhất vào Bắc Kinh sẽ khiến Hà Nội mất đi những lựa chọn khác trong hoàn cảnh chiến tranh. Bắc Kinh luôn từ chối việc xem xét khả năng đàm phán; trong khi Liên Xô nói họ có thể cân nhắc và thậm chí góp sức vào một giải pháp thương lượng cho tình hình Việt Nam nếu có thể.

Có ít nhất ba lý do khiến Moscow thay đổi quan điểm về Việt Nam.

Thứ nhất, Moscow nhận thấy họ là cường quốc duy nhất đủ khả năng hỗ trợ Bắc Việt trong cuộc đối đầu trực diện với một cuộc xâm lấn của Mỹ.

Thứ hai, quan hệ Liên Xô - Trung Quốc lúc này đã sụp đổ hoàn toàn. Nếu Moscow muốn duy trì sự kiểm soát tình hình ở Việt Nam, họ buộc phải dấn sâu nhiều hơn.

Thứ ba, nền chính trị ở Trung Quốc đã trở nên quá tả trong hai năm 1963, 1964 và Moscow lo ngại chiến lược mà Trung Quốc muốn Bắc Việt thực hiện sẽ hủy hoại cơ hội cho một kết quả mà Moscow muốn có tại Việt Nam.

(trich xcafevn)


CỰU NGOẠI TRƯỞNG TRẦN VĂN LẮM TIẾT LỘ VỀ HIỆP ĐỊNH...
Tìm Hiểu HƯ THỰC " Saigon et moi "

Sau 30 năm giữ yên lặng, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Melvin R. Laird nói gì về cuộc chiến tranh ở Việt Nam?

Sau 30 năm giữ yên lặng, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Melvin R. Laird nói gì về cuộc chiến tranh ở Việt Nam?
Nguyễn Quốc Khải



Ông Melvin R. Laird giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng trong những năm 1969-1973 dưới thời Tổng thống Richard Nixon. Ông rời khỏi Ngũ giác Đài sau khi việc rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam đã hoàn tất. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, ông trở lại làm Cố vấn Nội vụ cho Tổng thống Nixon vào tháng 6.1973. Tám tháng sau ông xin từ chức khi cuộc khủng hoảng Watergate trở thành nghiêm trọng. Từ ngày rời khỏi Bộ Quốc phòng và chính trường, ông Laird hoàn toàn giữ yên lặng về chiến tranh tại Việt Nam, một vấn đề chiếm nhiều thì giờ nhất khi ông làm việc tại Ngũ giác Đài. Vào cuối năm vừa qua, lần đầu tiên ông lên tiếng về cuộc chiến này vì có nhiều người liên hệ chiến tranh hiện nay ở Iraq với cuộc chiến tại Việt Nam.

Dù ông Laird là một trong những người thân cận của Tổng thống Nixon trong giai đoạn Watergate, nhưng tư cách của ông vẫn giữ được vẹn toàn. Ông Laird là người chính trực và có đầy đủ thẩm quyền để nói về chiến tranh Việt Nam. Những phần sau đây trình bày các nhận định của ông Laird vể cuộc chiến này. [1] Nhiều ý kiến của một số nhân vật khác cũng sẽ được trích dẫn để so sánh.

Mục tiêu của bài này là tìm hiểu sự thật về chiến tranh Việt Nam dù là sự thật cay đắng. Nhưng với sự can đảm nhìn thẳng vào sự thật đó, tác giả mong học được những bài học cho việc phát triển đất nước trong tương lai.


Sự thật về việc tham chiến của Hoa Kỳ

Từng là dân biểu trong Quốc hội Liên bang và Bộ trưởng Quốc phòng, ông Laird nhận định rằng cuộc chiến Việt Nam là một biến cố bi thảm, tệ hại, và được vận hành một cách vụng về trong lịch sử của Hoa Kỳ, với sự tổn thất nhân mạng lớn lao cho cả mọi phe. Nhưng ông nghĩ rằng chúng ta không thể kết luận một cách ngắn gọn rằng chiến tranh Việt Nam là một sai lầm. Cuộc chiến này khá phức tạp: một hỗn hợp của tốt và xấu mà từ đó có thể rút tỉa ra nhiều bài học giá trị. Tuy nhiên chỉ có một bài học xem ra tiếp tục tồn tại là “Đừng nên để bị mắc kẹt vào một Việt Nam thứ hai.” Có những người ở Hoa Kỳ ưa châm chọc vào vết thương thay vì để yên cho nó lành lại. Họ sẵn sàng đem con ngáo ộp Việt Nam ra đe dọa bất khi nào có cuộc xung đột võ trang. Đối với những người này, Việt Nam là một chính sách bảo hiểm để bảo đảm cho nền hoà bình ở nội địa nếu Hoa Kỳ không bao giờ phiêu lưu ở thế giới bên ngoài nữa. Do đó, cần phải vạch ra và xoá bỏ những ý niệm sai lầm về cuộc chiến Việt Nam để Hoa Kỳ phục hồi sự tự tin vào khả năng xây dựng quốc gia.

Theo ông Laird, sự thật về Việt Nam là Hoa Kỳ không thua trận khi rút quân vào năm 1973. Sự kiện cho thấy rằng Hoa Kỳ đã chuốc lấy thất bại, bỏ lỡ mất cơ hội chiến thắng hai năm sau khi Quốc hội chấm dứt viện trợ cho miền Nam Việt Nam và do đó làm mất khả năng chiến đấu của Việt Nam Cộng hoà. Hồ sơ chiến tranh do Hà Nội bạch hoá mới đây cho thấy rằng Sô Viết đã vi phạm Hiệp định Paris 1973 vì đã tiếp tục viện trợ cho Bắc Việt 1 tỉ Mỹ kim mỗi năm thay vì chỉ được phép thay thế võ khí và máy móc. Trong khi đó Hoa Kỳ chỉ viện trợ quân sự giới hạn cho miền Nam trong 2 năm. Sau khi xẩy ra biến cố Watergate, Hoa Kỳ đã thất bại trong việc tiếp vận cho đồng minh ở miền Nam Việt Nam vì sự sụp đổ của cơ cấu lãnh đạo ở Washington. Chính quyền tiếp nối không giữ lời hứa của chính quyền trước đã gây ảnh hưởng tai hại trong việc thương thuyết giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam.

Ông Laird cho rằng chiến tranh Việt Nam bắt nguồn từ những sai lầm quá tệ hại về tình báo. “Hoa Kỳ đã không hiểu được động lực nào thúc đẩy ông Hồ Chí Minh trong thập niên 1950. Nếu hiểu được tinh thần quốc gia sâu xa của Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ đã có thể thay đổi khuynh hướng cộng sản của ông.”

Cái cớ để Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến Việt Nam là việc chiến hạm U.S.S. Maddox bị ba tàu phóng thủy lôi của hải quân Bắc Việt tấn công vào ngày 2.8.1964 trong vịnh Bắc Việt cách duyên hải Việt Nam 25 dặm. Cuộc tấn công đơn lẻ này có thể xem như là một lầm lẫn bất thường (aberration). Nhưng hai ngày sau, chiến hạm U.S.S. Maddox, với sự tham dự của chiến hạm U.S.S. Turner Joy, đã báo cáo rằng tàu bị tấn công lần thứ hai. Năm năm sau, khi là Bộ trưởng Quốc phòng, căn cứ vào các báo cáo, ông Laird nhận định rằng không có lần tấn công thứ hai. Đây là một sự nhầm lẫn, sợ hãi quá độ, và thông tin sai lệch xảy ra trong đêm tối. [2] Ông Laird từng phục vụ trên chiến hạm U.S.S. Maddox trong Đệ nhị Thế chiến và đã bị thương khi chiến hạm này bị phi công cảm tử của Nhật tấn công trên biển Thái Bình Dương. Mảnh đạn còn lưu lại trong cơ thể của ông cho đến ngày nay.

Tổng thống Johnson và Bộ trưởng Quốc phòng McNamara không che giấu hoặc giải thích sai lầm của tin tình báo không đúng về vụ hải quân Bắc Việt tấn công tàu Maddox. Nhưng sự kiện là ông McNamara đã hăm hở đến Quốc hội và đưa ra một lời tuyên bố không có nghĩa là chiến tranh, nhưng dù sao cũng đã gây ra chiến tranh. [3] Ông Laird cùng với 501 đồng nghiệp ở Quốc hội đã bỏ phiếu ủng hộ Nghị quyết vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution), cho phép Tổng thống Johnson gia tăng vai trò của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trước đó Hoa Kỳ một phần là kẻ ngoại cuộc, một phần là một kẻ chiến đấu bí mật, phần khác là cố vấn. Ông Laird gián tiếp kết luận rằng Hoa Kỳ đã dần dần, một cách bí mật, và sơ ý rơi vào vấn đề Việt Nam.

Ông Laird công nhận rằng Hoa Kỳ có một số ít quyền lợi kinh tế ở Việt Nam. Mặt khác, một vấn đề an ninh quốc gia là cần phải ngăn ngừa ảnh hưởng giây chuyền theo đó toàn thể thế giới sẽ rơi vào vòng kiểm soát của cộng sản, nếu mất vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên lý do này không có đủ trọng lượng. Nhưng theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Melvin R. Laird, chiến tranh Triều Tiên vào đầu thập thập niên 1950 là một bằng chứng về mối đe dọa của cộng sản tại Á châu. Vào hai thập niên 1960 - 1970 mối đe dọa này tiếp tục và là sự thật đặc biệt ở vùng Đông Nam Á. Tại Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương và ngay cả tại Ấn Độ, phong trào cộng sản đã thiết lập được các căn cứ địa vững vàng. Mục tiêu của Hoa Kỳ là chặn đứng sự bành trướng của cộng sản ở Á châu.

Diễn biến của chiến tranh

Theo ông Laird, việc Mỹ hoá chiến tranh Việt Nam, hay nói một cách khác là Hoa Kỳ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam, là một thảm họa lớn, một quyết định sai lầm. Kế hoạch này bắt đầu bằng việc Tổng thống John F. Kennedy gửi vài trăm cố vấn đến Việt Nam. Vào năm 1962 Hoa Kỳ đã có 16,000 cố vấn tác chiến (combat advisers) tại Việt Nam. [4] Tổng thống Johnson nhận định rằng Đông Nam Á là nơi để chặn đứng sự bành trướng của cộng sản. Do đó Johnson quyết định vung tiền và sử dụng không hạn chế nhân lực vào mục tiêu này. Những đơn vị tác chiến đầu tiên của Hoa Kỳ được gửi đến Việt Nam vào năm 1965.

Trong chiến tranh Việt Nam, Hoa Kỳ chủ trương giúp thành lập bất cứ một chính phủ địa phương nào có thể thực thi chiến lược về chiến tranh lạnh của Hoa Kỳ, không cần phải là một chính quyền dân chủ. Theo ông Laird, đây là một sai lầm cực kỳ nghiêm trọng. Đại Sứ Philip Habib là người đã soạn thảo Hiến Pháp 1967 cho Việt Nam. Hoa Kỳ đã làm đạo diễn (choreograph) cho những cuộc bầu cử để trao quyền hành cho “những kẻ tham nhũng, ích kỷ, và độc tài khoác bộ áo lãnh tụ quốc gia.”

Hoa Kỳ lúc đó đã đánh giá quá thấp sự cần thiết của một chính quyền hợp pháp thật sự tại miền Nam Việt Nam. Thay vào đó, Hoa Kỳ quan niệm rằng một chính quyền không chính thức (shadow government) và một lực lượng quân sự cũng đủ để có thể đem lại chiến thắng. Ông Laird đã không tin rằng một ngày nào đó chính phủ Sài Gòn có thể sụp đổ vì thiếu chính danh và thiếu sự toàn vẹn.

Trong 2,8 triệu công dân Mỹ phục vụ tại Việt Nam và vùng phụ cận trong thời gian chiến tranh, chỉ có dưới 10% phục vụ trong các đơn vị bộ binh ở tiền tuyến. Mặt khác quân lực Hoa Kỳ lúc đó gồm những binh sĩ bị động viên, khiếp sợ, không được huấn luyện và trang bị đầy đủ để đối phó với chiến tranh du kích. Một số không đếm được những thường dân vô tội Việt Nam đã bị giết trong những cuộc truy lùng cộng sản trong đám dân ở nông thôn. Việc tàn sát thường dân ở Mỹ Lai không xẩy ra dưới thời ông Laird, nhưng việc xử án trung uý William Calley đã diễn ra khi ông còn đang làm việc ở Ngũ giác Đài. Ông nhận xét rằng quần chúng Mỹ đã phản đối việc dùng Calley làm vật hi sinh trong khi các cấp chỉ huy được tự do.

Ông Laird nhận định rằng một trong những chiến thuật cộng sản áp dụng tại Việt Nam là kéo dài chiến tranh để thử thách ý chí và sự kiên nhẫn của Hoa Kỳ. Trên thực tế vào khoảng cuối thập niên 1960, một trong những bài học về chiến tranh Việt Nam không được nhiều người công nhận. Đó là tổn thất chiến tranh không phải là điều quan tâm chính của quần chúng Hoa Kỳ. Binh sĩ Hoa Kỳ sẽ thi hành nhiệm vụ, và quần chúng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận tổn thất nhân mạng, nếu cuộc chiến có những mục tiêu đích đáng có thể đạt được, và được chính phủ hỗ trợ rõ ràng. Ngoài ra những nhà lãnh đạo cần phải thành thực về những mục tiêu này. Đây lại không phải là trường hợp Việt Nam như sẽ được trình bày thêm ở đoạn về chiến tranh giới hạn ở bên dưới.

Một lầm lỗi thê thảm nữa về chiến tranh Việt Nam là những nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đã thua trên mặt trận giao tế. Đại tướng Creighton Abrams thường xuyên than vãn với ông Laird rằng ông rất nản lòng về cách mô tả cuộc chiến của truyền thông Hoa Kỳ và sự khác biệt với sự thật mà ông nhìn thấy. Ông phải tham dự hàng trăm buổi thuyết trình được thu âm với hơn 500 phóng viên có mặt tại Sài Gòn. Các ký giả gần như được hoàn toàn tự do đi lại tại Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc tranh chấp quân sự đầu tiên được trực tiếp truyền hình. Nếu các cha mẹ của những binh sĩ Hoa Kỳ phục vụ trong Đệ nhị Thế chiến nhìn thấy những hình ảnh của CNN về cuộc đổ bộ vào ngày D theo như phim Saving Private Ryan được tường thuật trực tiếp trên màn ảnh truyền hình, họ có thể nghĩ Âu Châu không đáng được cứu vãn.

Theo ông Laird, cuộc chiến Việt Nam dù đã phải trả một giá đắt, có thể xem như là một chiến thắng. Mặc dù đã xây dựng được các căn cứ địa vững vàng tại chỗ, cộng sản đã thất bại tại Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Tân Gia Ba, Nam Dương, và Ấn Độ vì cuộc chiến ở Việt Nam đã thu hút nhiều tài nguyên của Liên Sô.


Chiến tranh giới hạn

Trong cuộc chiến Việt Nam, bộ binh Hoa Kỳ tham chiến tại miền Nam Việt Nam, nhưng không được phép tiến ra ngoài Bắc. Không quân chỉ được phép đánh vào Bắc Việt, Lào và Campuchia ào ào một lúc rồi lại ngưng, khi thì bí mật, khi lại công khai, pha trộn với những lừa dối và mưu mẹo, thực hiện theo mức lên xuống của công luận thay vì đòi hỏi quân sự. Trong những năm đầu của chiến tranh, không có sự nhất trí giữa các ngành trong chính phủ. Ngay cả Bộ Ngoại giao cũng có quyền phủ quyết những cuộc không kích. Tổng thống Johnson thức khuya để bàn cãi trong khi các tướng lãnh không được hỏi han đến.

Khi Tổng thống Nixon ra lệnh ném bom bí mật ở Campuchia, ông Laird đã phản đối mạnh mẽ. Ông không phản đối việc ném bom vì tin rằng Hoa Kỳ nên chiến đấu ở bất cứ nơi nào cần phải chiến đấu - bất cứ nơi nào có kẻ thù ẩn náu - hoặc là không chiến đấu, nhưng ông chống lại thủ đoạn lừa gạt (deception) công luận. Khi bí mật này bị lộ, như ông tiên đoán, ông bị nghi ngờ một cách sai lầm là nguyên nhân của sự tiết lộ này. Tổng thống Nixon đã chấp thuận đề nghị của ông Kissinger ra lệnh cho Cơ quan Điều tra Liên bang (Federal Bureau of Investigation - FBI) đặt máy nghe lén điện thoại ở nhà của người phụ tá của ông Laird. Dân chúng Hoa Kỳ không muốn bị lừa dối, không chấp nhận bí mật và cũng không muốn bị gạt ra ngoài cuộc tranh luận về chiến tranh.


Việt Nam hoá chiến tranh

Nếu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara thi hành chính sách tham chiến tại Việt Nam của Tổng thống Lyndon B. Johnson, thì ông Laird, người kế vị ông McNamara, là người thực hiện chính sách chấm dứt sự liên hệ của Hoa Kỳ vào cuộc chiến này của Tổng thống Nixon. Theo ông Laird, khi ra tranh cử Tổng thống vào năm 1968, ông Nixon hứa chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam dưới tiêu đề “Hoà bình trong danh dự” (Peace with Honor), nhưng chưa có một kế hoạch cụ thể nào cả. [5] Vào năm 1968, ông Laird chỉ mới đề nghị cho vào cương lĩnh của Đảng Cộng hoà ý kiến giảm vai trò của Hoa Kỳ trong chiến tranh (de-americanize the war). Chính Bộ trưởng Quốc phòng Laird là người đã thiết lập kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh mà ông cho là thành công. Ông quan niệm trả lại chiến tranh cho người Việt, những người quan tâm đến vấn đề này nhất, để tư họ lo lắng theo điều kiện của chính họ. Người Việt cần tiền của Mỹ và huấn luyện nhưng không cần thêm máu của quân nhân Mỹ nữa. Đó là những lời khuyên đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Laird dành cho Tổng thống Nixon. Ông Laird gọi kế hoạch này là “Việt Nam hoá chiến tranh” (Vietnamizing the war) và Tổng thống Nixon gọi là Việt Nam hoá việc tìm kiếm hoà bình (Vietnamizing the search for peace).

Khi hai ông Nixon và Laird thừa kế cuộc chiến tại Việt Nam vào năm 1969, cuộc chiến đã kéo dài được 4 năm với 31.000 binh sĩ Hoa Kỳ đã thiệt mạng, 540.000 quân Mỹ hiện diện tại Việt Nam và thêm 1,2 triệu quân thuôc bộ binh, hải quân và không quân yểm trợ cuộc chiến từ các căn cứ quân sự trong vùng, trên các chiến hạm và hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương. Chiến tranh Việt Nam gây ra sự chia rẽ trầm trọng trong nước Mỹ và sự chỉ trích từ nhiều nước bạn cũng như thù địch.

Ông Laird từ giã Quốc hội sau chín nhiệm kỳ để gia nhập nội các của Tổng thống Nixon vào năm 1969. Ngày đầu tiên làm việc tại Ngũ giác Đài, ông mở đọc hai hồ sơ tối mật để trong tủ an toàn ngay tại phòng làm việc. Hồ sơ thứ nhất gồm những tài liệu về một việc đã xảy ra dưới thời ông McNamara: Làm sao Hoa Kỳ bị lôi cuốn vào chiến Việt Nam. Không lâu, hồ sơ này được tiết lộ cho báo New York Times với cái tên là “The Pentagon Papers” mà ông Laird gọi là “The McNamara Papers”. Khi là một dân biểu ở Quốc hội Liên bang ông đã nghe khá nhiều về đề tài này. Do đó ông không đọc hết hồ sơ mật thứ nhất. Việc đã xảy ra không còn là một mỗi quan tâm của ông lúc đó. Hồ sơ tối mật thứ hai mỏng hơn nhưng đặt ra nhiều vấn đề. Đó là việc Đại tướng William Westmoreland xin tăng quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam từ 500.000 lên đến 700.000. Yêu cầu này không được giải quyết trong khoảng một năm. Nó không được chấp nhận mà cũng không bị từ chối. Hành động đầu tiên của ông Laird với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng là chính thức bác bỏ lời yêu cầu của Tướng Westmoreland. Việc này đánh dấu sự bắt đầu rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam trong vòng 4 năm.

Theo Bộ trưởng Laird, sự thật là chiến tranh luôn luôn biến đổi. Do đó sứ mệnh của nó cũng phải thay đổi. Đây là một định luật chứ không phải là một biệt lệ. [6] Vào mùa Xuân 1969, do sáng kiến của Bộ trưởng Laird, Hoa Kỳ thay đổi mục tiêu chiến lược từ “gây áp lực tối đa vào quân địch” sang “hỗ trợ tối đa miền Nam Việt Nam để tự chiến đấu.” Những người chống lại kế hoạch này lại là chính phủ của miền Nam Việt Nam vì đã quá quen lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Một số cấp chỉ huy quân sự Hoa Kỳ mang ảo tưởng về một sự toàn thắng của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á bằng sức mạnh của Hoa Kỳ cũng chống đối việc giảm quân số. Ngay cả nếu điều đó có thể xảy ra, Mỹ hoá chiến tranh là một sai lầm ngay từ đầu, và sự kiên nhẫn của quần chúng Hoa Kỳ sẽ biến mất trước khi mục tiêu đạt được.

Sứ mệnh của Hoa Kỳ về chiến tranh Việt Nam thật sự thay đổi vì tình hình thế giới đã thay đổi một cách quan trọng từ vài năm trước khi kế hoạch Việt Nam hoá bắt đầu. Mục tiêu lúc đầu của Hoa Kỳ là chặn đứng sự bành trướng của cộng sản ở vùng Đông Nam Á. Nhờ sự thay đổi về mối quan hệ giữa Nga Sô và Trung Quốc từ anh em thành kẻ thù và phong trào cộng sản ở Nam Dương bị dẹp tan, mối đe dọa của đế quốc cộng sản giảm bớt. Theo ông Laird, Hoa Kỳ không muốn bỏ rơi Việt Nam nhưng muốn trả lại quyền tự quyết cho quốc gia này. [7]

Đợt rút quân Mỹ đầu tiên được công bố sau hội nghị Việt - Mỹ tại đảo Midway vào tháng 6.1969. Trước đó ba tháng, Bộ trưởng Laird đã bay qua Sài gòn để thông báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về quyết định này. Trong khi dư luận chống chiến tranh ngày càng lên cao, việc rút quân Mỹ cũng không phải là một điều dễ dàng. Tổng thống Thiệu cũng như hầu hết những cấp chỉ huy quân sự Hoa Kỳ, từ Tổng tham mưu trưởng trở xuống, đều muốn tăng quân số Hoa Kỳ tại Việt Nam. Mỗi lần phải giảm quân số, các tướng lãnh trong Bộ Tổng tham mưu đều đề nghị những con số thê thảm. Ông Laird lại phải bơm những con số này lên sau khi tham khảo ý kiến với Tướng Abrams. Ngay cả Tổng thống Nixon, người đã chấp thuận rút quân và hứa hẹn chấm dứt chiến tranh, cũng miễn cưỡng chấp thuận giảm quân số mỗi lần Bộ trưởng Laird đệ trình yêu cầu. Chỉ trong vòng 6 tháng sau Hội nghị Midway, Hoa Kỳ đã rút 60.000 binh sĩ, bao gồm 20% của lực lượng tác chiến, ra khỏi Việt Nam. Vào giai đoạn đó có lẽ đồng minh duy nhất của Bộ trưởng Laird là Tướng Abrams vì ông ta hiểu, nhưng những người khác không hiểu rằng sự kiên nhẫn của quần chúng Hoa Kỳ đã cạn. Sau vụ Watergate, uy tín của Tổng thống Nixon bị suy giảm trầm trọng khiến ông mất hết khả năng để vận động dư luận quần chúng.


Khả năng của quân lực Việt Nam Cộng hoà

Sau khi người lính tác chiến cuối cùng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam vào đầu năm 1973, quân lực Việt Nam Cộng hoà đã chiến đấu dũng cảm và đáng kính phục trong hai năm kế tiếp, để chống lại lực lượng Cộng quân được viện trợ đầy đủ hơn. Từ cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 cho đến khi Sài Gòn sụp đổ, miền Nam Việt Nam không bao giờ thua một trận lớn nào. Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân chính là một chiến thắng của miền Nam Việt Nam và là một thảm bại của quân đội miền Bắc với sự thiệt mạng của 289.000 binh sĩ riêng trong năm 1968. Ngược lại, đa số các cơ quan truyền thông đã mô tả cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân và cuộc chiến tiếp theo là một thất bại của Hoa Kỳ và chính phủ Sài Gòn. Bộ trưởng Laird trước đây và hiện nay vẫn tin rằng quân lực miền Nam Việt Nam có đủ khả năng tự vệ nếu được viện trợ đầy đủ.

Miền Nam Việt Nam đã đánh bại được quân khủng bố Việt cộng bằng sự phối hợp của võ lực và sự thuyết phục, mặc dù Việt cộng được tài trợ dồi dào, trang bị đầy đủ bởi Nga Sô, được khích động theo lãnh tụ Hồ Chí Minh và mục tiêu quốc gia của ông ta. [8] Nhưng miền Nam còn phải đối phó cả với lực lượng chính quy miền Bắc. Tổng số Cộng quân là hơn 1 triệu binh sĩ vào năm 1973. Vào thời điểm này, miền Bắc đã tổn thất 1,1 triệu binh sĩ và 2 triệu thường dân. Tuy nhiên Cộng quân tiếp tục chiến đấu vì chiến thắng là tất cả đối với Bắc Việt nhưng không là gì cả đối với một dân Mỹ bình thường.


Hoa Kỳ chiến đấu đơn độc

Cũng giống như chiến tranh Triều Tiên, lúc đầu Hoa Kỳ coi thường vai trò của đồng minh, hầu như tự ý chiến đấu đơn độc ở Việt Nam với một liên minh không đáng kể. Hoa Kỳ cung cấp phần lớn tiền bạc, súng đạn, và nhân lực để giúp hai nước này chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản. Như Tổng thống Nixon nhận định, dân tộc Hoa Kỳ thích làm mọi việc lấy một mình và là một dân tộc thiếu kiên nhẫn. Những tính chất này đã thấm sâu vào chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Ngay trong năm đầu tiên nhậm chức, Tổng thống Nixon đề ra ba nguyên tắc sau, làm căn bản cho chính sách ngoại giao mới của Hoa Kỳ, trong một buổi họp báo tại đảo Guam vào ngày 25.7.1969: [9]

Hoa Kỳ sẽ tôn trọng những thoả hiệp đã cam kết.
Hoa Kỳ sẽ bảo vệ chống lại một cường quốc nguyên tử, nếu cường quốc này đe dọa nền tự do của một nước đồng minh với Hoa Kỳ hoặc một quốc gia mà sự sống còn rất quan trọng cho sự an ninh của Hoa Kỳ.
Trong trường hợp liên hệ đến những cuộc xâm lăng khác, Hoa Kỳ sẽ yểm trợ quân sự và kinh tế khi được yêu cầu theo những thoả hiệp đã được cam kết. Nhưng Hoa Kỳ trông đợi quốc gia bị đe doạ trực tiếp lãnh trách nhiệm chính về việc cung cấp nhân lực để tự bảo vệ.
Các nguyên tắc trên đây được áp dụng vào kế hoạch “Việt Nam hoá cuộc tìm kiếm hoà bình” và được giải thích rõ ràng trong bài diễn văn của Tổng thống Nixon vào ngày 3.11.1969 về chiến tranh Việt Nam. Chính sách mới của Hoa Kỳ là giúp các quốc gia chiến đấu nhưng không chiến đấu cho những quốc gia này. [10] Chính sách này được gọi là “chủ thuyết Nixon” (Nixon Doctrine) còn nhắm vận động sự hợp tác các nước đồng minh và các quốc gia thân thiện của Hoa Kỳ. Một năm sau, trong bản phúc trình đệ trình Quốc hội, Tổng thống Nixon tuyên bố: “Hoa Kỳ không thể và sẽ không tạo ra tất cả mọi kế hoạch, phác họa ra tất cả mọi chương trình, thi hành mọi quyết định và phụ trách bảo vệ những quốc gia tự do trên thế giới. Chúng ta sẽ giúp đỡ những nơi có thể tạo sự khác biệt và được xem như hợp với quyền lợi của chúng ta.”

Chủ thuyết Nixon đánh dấu sự bắt đầu của kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh.


Sự phản bội của Hoa Kỳ


Theo ông Laird, trường hợp Việt Nam đã làm cho Hoa Kỳ mang tiếng là đã không yểm trợ đồng minh. Điều xấu hổ không phải là Hoa Kỳ đã có mặt ở Việt Nam lúc ban đầu mà là Hoa Kỳ đã phản bội đồng minh của Hoa Kỳ vào lúc cuối cùng. Chính Quốc hội đã ngoảnh mặt đi đối với những lời hứa liên quan đến Hiệp định Paris. Ông Laird nói Tổng thống [Gerald Ford], bộ trưởng ngoại giao [Henry Kissinger], và Bộ trưởng Quốc phòng [James R. Schlesinger] phải chia sẻ nỗi nhục nhã này. Họ đã không đứng lên để giữ những cam kết với miền Nam Việt Nam. Đặc biệt là ông Kissinger, người đã tham dự trực tiếp vào cuộc hội đàm Paris.

Vào năm 1954, Hành pháp Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống hiến cử Eisenhower tỏ ra bất lực, đã để Quốc hội làm những quyết định về cuộc khủng hoảng lần thứ nhất tại Đông Dương. Lịch sử Hoa Kỳ lại tái diễn vào năm 1975. Trong những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam, Tổng thống Jerry Ford do hiến pháp chọn thay ông Nixon, bãi bỏ thuyết Domino và tuyên bố lấy lệ rằng sự thất bại của Hoa Kỳ tại Đông Dương không phải là ngày tận thế và cũng không phải là dấu hiệu ám chỉ rằng vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới chấm dứt… Cuộc phiêu lưu sai lầm và bi thảm của Hoa Kỳ tại Đông Dương không làm giảm nhu cầu duy trì những cam kết quốc tế của Hoa Kỳ theo bất cứ phương cách nào. Bộ trưởng Henry Kissinger phản ứng như một đứa trẻ với cái tôi bị tổn thương nặng: “Chúng tôi thật là không đáng tin cậy… Sự phụ bạc của chúng tôi đã gây ra tai họa.” [11]

Thái độ muốn bỏ rơi Việt Nam của Quốc hội Hoa Kỳ đã khá rõ ràng qua những quyết định sau đây: 1. chấm dứt can thiệp quân sự vào tháng 8.1973; 2. cấm can thiệp trở lại vào Việt Nam; 3. cấm trả đũa trong trường hợp Hiệp định Paris bị vi phạm; 4. giảm viện trợ cho Việt Nam từ 1,4 tỉ Mỹ kim xuống còn 700 triệu Mỹ kim vào năm 1974; 5. từ chối cứu xét yêu cầu của Tổng thống Ford xin viện trợ khẩn cấp cho Việt Nam vào đầu tháng 4.1975. [12]

Báo chí thay đổi lập trường 180 độ.

Tờ New York Times vào ngày 3.11.1963 viết: “… Mất Việt Nam cho cộng sản có thể tăng nghi ngờ khắp mọi nơi trên thế giới về giá trị của những cam kết của Hoa Kỳ về việc bảo vệ các quốc gia chống lại áp lực của cộng sản… Ảnh hưởng của những phong trào cách mạng trên toàn thế giới sẽ rất nghiêm trọng. May mắn lắm là chủ nghĩa trung lập sẽ bành trướng trong cuộc tranh chấp Đông - Tây. Phần lớn Á châu sẽ có cảm nghĩ rằng cộng sản - dưới sự lãnh đạo và khát vọng của Bắc Kinh - sẽ là những đợt sóng của tương lai.”

Gần 12 năm sau, vào ngày 24.4.1975 tờ New York Times không nhắc lại đến chuyện cũ, đưa ra lời bình luận mới như sau: “Chấm dứt cuộc phiêu lưu quân sự lầm lẫn tại Á châu sẽ làm cho vận mệnh của Hoa Kỳ dễ dàng trở về với viễn tượng của Tổng thống Lincohn.”

Theo ông Laird, những kẻ đào ngũ sau cùng đã thắng và những đồng minh của Hoa Kỳ bị phản bội sau bao nhiêu cố gắng của Hoa Kỳ giúp đỡ họ đứng vững. Họ chỉ nhìn vào mặt đẹp đẽ của sự thất trận với những thay đổi hiện nay ở Việt Nam như kinh tế phát triển và liên hệ tốt đẹp với Tây phương. Họ quên cái giá trực tiếp của sự phản bội: hai triệu người tị nạn bị đẩy ra khỏi Việt Nam, 65.000 người bị hành quyết, và 250.000 người bị đưa vào các trại tù cải tạo. Ông Laird chưa kể đến hàng triệu vợ con của những người này không nơi nương tựa và hàng trăm ngàn người mất tích trên biển cả.


Thay phần kết luận

Một yếu tố liên hệ khác khá quan trọng mà báo chí và các chính trị gia, kể cả ông Melvin Laird, từ chối không nói đến là ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông giữa Do Thái với các nước Á Rập đối với Việt Nam. Từ năm 1967 đến năm 1973 đã xẩy ra hai chiến tranh ngắn ngủi nhưng đấm máu giữa Do Thái một bên và Ai Cập, Syria, Jordan, và Iraq một bên. Trận chiến 6 ngày trong tháng 6.1967 đã gây tổng số thiệt hại về nhân mạng của cả hai bên là 22.000 lính tử trận và 48.000 lính bị thương. Chiến tranh Yom Kippur trong tháng 10.1973 có tổng số thiệt hại nhân mạng của cả hai bên là 11.200 binh sĩ tử trận và 27.000 binh sĩ bị thương. Hoa Kỳ luôn luôn ủng hộ Do Thái về cả súng đạn và tài chánh. Trung Đông rất quan trọng đối với Hoa Kỳ vì ba lý do: 1. dầu hoả; 2. Do Thái là đồng minh của Hoa Kỳ, và 3. ảnh hưởng và thế lực chính trị và tài chánh của người Mỹ gốc Do Thái rất mạnh. Sách lược quân sự của Hoa Kỳ đã thay đổi từ khả năng đương đầu với 2 ½ cuộc chiến cùng một lúc xuống còn 1 ½ cuộc chiến kể từ đầu thập niên 1970. Do đó Hoa Kỳ đã phải chọn lựa Trung Đông thay vì Đông Nam Á với áp lực của người Mỹ gốc Do Thái sau khi đã đầu tư nhiều năm vào bán đảo Đông Dương.

Một vấn đề khác cần làm sáng tỏ là ai thực sự chịu trách nhiệm bỏ rơi miền Nam Việt Nam, Quốc hội, chính quyền Ford hay Nixon? Theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Laird, như đã trình bày ở trên, Quốc hội Hoa Kỳ là thủ phạm chính. Tổng thống Ford, và hai Bộ trưởng Kissinger và Schlesinger là phụ vì không đủ ý chí phấn đấu với Quốc hội. Nhưng theo sư phân tích của GS. Larry Berman, khi ký Hiệp định Paris 1973, Tổng thống Nixon và Bộ trưởng Kissinger đều biết rõ rằng Hiệp định này có một điểm rất bất lợi cho miền Nam Việt Nam vì nó cho phép 150,000 quân cộng sản Bắc Việt (CSBV) ở lại miến Nam Việt Nam. Những tài liệu mới giải mật do GS. Berman tìm kiếm được cho thấy Hiệp định Paris chỉ là một sự thoả thuận để cho Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam và lấy lại tù binh an toàn. Hiệp định Paris 1973 được chính quyền Nixon gọi là “Thoả hiệp Chấm dứt Chiến tranh và Tái lập Hoà bình tại Việt Nam” (Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam). Khi thoả hiệp này được Lê Đức Thọ và Henry Kissinger ký tắt tại Paris vào ngày 23.1.1973, Tổng thống Nixon tuyên bố tại Washington rằng “Hoa Kỳ không phản bội đồng minh để đánh đổi lấy hoà bình, không bỏ rơi tù binh, không chấm dứt chiến tranh đối với Hoa Kỳ, nhưng lại để chiến tranh tiếp tục đối với 50 triệu dân ở Đông Dương.” [13] Nhưng thực tế là Hiệp định Paris không đem lại hoà bình thực sự và lâu dài, đúng như ông Lê Đức Thọ tuyên bố khi ông từ chối nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình. Hơn ai hết, ông Lê Đức Thọ biết rõ Hà Nội đã có sẵn âm mưu vi phạm hiệp định này và vẫn theo đuổi việc chiếm trọn miền Nam Việt Nam.

Tổng thống Nixon biết rõ rằng việc bảo đảm hoà bình là một điều rất khó thực hiện trên căn bản Hiệp định Paris. Nhưng ông dự trù can thiệp bằng không lực, theo một thoả thuận bí mật giữ Tổng thống Nixon và ông Nguyễn Văn Thiệu, để hỗ trợ chính quyền miền Nam Việt Nam cho đến khi mãn nhiệm kỳ nếu Bắc Việt vi phạm trắng trợn. Vụ Watergate đã làm hỏng kế hoạch của ông Nixon. Bộ trưởng Kissinger đã tiên đoán rằng Bắc Việt sau cùng sẽ thắng và miền Nam sẽ chỉ đứng vững được trong một năm rưỡi. Do đó kế hoạch thực hiện “Hoà bình trong danh dự” chỉ là ảo tưởng. [14]

Sau khi miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản, thuyết Domino không xảy ra ở Á châu như một số chính trị gia tiên đoán, nhưng đã có những chứng cớ hiển nhiên trong quá khứ cũng như vào hai thập niên 1970 và 1980. Một năm sau khi Mao Trạch Đông chiếm được Hoa Lục vào năm 1949, cộng sản Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên và chiến tranh kéo dài đến khi hai bên chấp nhận hưu chiến vào năm 1953. Cộng sản tiếp tục bành trướng lãnh thổ ở Á châu với sự chiếm đóng miền Bắc Việt Nam vào năm 1954. Cuba trở thành một nước cộng sản đầu tiên ở Châu Mỹ Latin vào năm 1959. Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 có thêm bốn nước theo chủ nghĩa cộng sản là Bắc Yemen, Cộng hoà Nhân dân Congo, Somalia, và Ethiopia. Ngay sau khi cộng sản đã chiếm được cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia vào mùa Xuân 1975, một loạt các nước khác rơi vào tay đế quốc cộng sản như Benin, Angola, Mozambique, Afghanistan, Grenada, và Nicaragua. Đến năm 1979 làn sóng đỏ mới ngưng. Vào thời điểm đó, chế độ cộng sản cai trị một phần ba dân số thế giới, nhưng không tồn tại được lâu. Đến cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, chế độ cộng sản tan rã tại hầu hết các quốc gia này, đồng loạt với các nước Đông Âu, Nga Sô, Trung Á, và Mông Cổ.

Riêng tại Á châu, phản ứng của những nước bạn với Hoa Kỳ rất rõ ràng. Thái Lan yêu cầu Hoa Kỳ trả lại 5 căn cứ và rút 27.000 binh sĩ ra khỏi lãnh thổ trước ngày 17.3.1976. Chính phủ Phi Luật Tân đòi lại chủ quyền về Căn cứ Không quân Clark và Căn cứ Hải quân Subic, và duyệt xét lại Hiệp định An ninh giữa hai quốc gia. Kết quả là Hoa Kỳ đã hoàn trả tất cả các căn cứ Hoa Kỳ đang sử dụng cho Phi Luật Tân vào năm 1979. Tổng thống Lý Quang Diệu của Tân Gia Ba nhận định rằng Hoa Kỳ không còn khả năng để can thiệp vào vùng Đông Nam Á nữa và chỉ còn lai hai đối thủ cạnh tranh thế lực trong vùng này là Trung Quốc và Nga Sông Nam Hàn lo sợ Bắc Hàn dùng võ lực để thống nhất hai miền như đã xẩy ra trước đó một phần tư thế kỷ. Không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Bắc Hàn Kim Il Sung viếng thăm Bắc Kinh trong khoảng thời gian 18-26.4.1975 vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ. Lúc đó có nhiều dấu hiệu từ Bắc Kinh cho biết là Nam Hàn sẽ là một con cờ domino, nhưng không nhất thiết phải xảy ra ngay sau Việt Nam. [15]

Trở lại vấn đề Việt Nam, Cộng sản chiếm đoạt được miền Nam bằng võ lực nhưng đã không chiếm được lòng dân. Chính sách xã hội hoá miền Nam và củng cố xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã thất bại hoàn toàn. Cộng sản Việt Nam đã theo đuổi một cuộc chiến mà không có kẻ chiến thắng. Chỉ có nhân dân ở cả hai miền Bắc và Nam là những kẻ thua cuộc vì phải trả một giá rất đắt bằng hàng triệu sinh mạng và đổ vỡ thê thảm về vật chất và tinh thần. Biết bao gia đình bị ly tán và đạo đức suy đồi, mà ảnh hưởng tai hại sẽ còn kéo dài qua nhiều thế hệ.

Hệ thống chính trị độc đảng, công an trị ngày càng tham nhũng và trở nên thối nát. Trong khi đó người dân bị khước từ mọi quyền tư do căn bản. Sau 30 năm nhìn lại, người dân tự hỏi mục tiêu gây ra chiến tranh của Cộng sản Việt Nam là gì nếu không phải là một cuộc phiêu lưu điên rồ.

Sau 10 năm thống nhất được lãnh thổ, Cộng sản Việt Nam đã không thống nhất được lòng người mà còn gây thêm hận thù và đưa đất nước xuống đáy tận cùng của vực thẳm nghèo đói và ngu dốt. Tình thế đã buộc Cộng sản Việt Nam phải thực thi chính sách cởi trói trong 20 năm qua nhưng đất nước ngày càng tụt hậu so với các nước láng giềng, xã hội ngày càng phân hoá và xa đọa. Một dân tộc không thể kiêu hãnh được nếu chỉ đứng nhất về những xấu xa và đứng hạng chót về những cái tốt.

Một môi trường mô tả như trên không thể thích hợp cho sự phát triển lành mạnh và quân bình. Trong khi một thiểu số quá giàu, đa số dân chúng vẫn nghèo, không được hưởng những tiện nghi tối thiểu như nhà ở, điện, nước, y tế, giáo dục, v.v…

Phát triển tại Việt Nam đòi hỏi nhiều thứ hơn là “giải phóng kinh tế bây giờ với tiềm năng có tự do dân chủ sau này… Phát triển thật sự và lâu bền phải bắt đầu bằng dân chủ.” [16] Nhiều dấu hiệu cho thấy phong trào đòi tự do dân chủ và công bằng xã hội ngày càng lớn mạnh ở Việt Nam. Các nhà nhân quyền và dân chủ ở trong nước đã mạnh mẽ công khai lên tiếng đòi hỏi tự do đi lại, tự do tôn giáo, tư do ngôn luận. Mỗi ngày hàng trăm người đến các Nhà tiếp dân để khiếu nại về việc mất đất đai và nhà cửa. Hàng ngàn công nhân bất chấp luật lệ cấm đoán, đã đình công đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, đòi quyền sống. Các cuộc tranh đấu này được hỗ trợ của các quốc gia dân chủ Tây Phương, đặc biệt là Hoa Kỳ và 3 triệu người Việt ở hải ngoại. Chỉ khi chế độ độc đoán hiện nay được loại bỏ, kinh tế mới thật sự có môi trường phát triển toàn diện, dân Việt Nam mới được thực sự giải phóng, và đất nước mới có cơ hội thoát ra khỏi quốc nạn tụt hậu đã kéo dài khoảng nửa thế kỷ.

Washington, DC, 25.02.2006

© 2006 talawas


[1]Melvin R. Laird, “Iraq: Learning the Lessions of Vietnam,” Foreign Affairs, November / December 2005.
[2]There was confusion, hysteria, and miscommunication on a dark night.
[3]McNamara hotfooted it over to Capitol Hill with a declaration that was short of war but that resulted in a war anyway.
[4]Richard Nixon, “President’s Speech on Vietnamization,” Washington, DC, November 3, 1969.
[5]Richard Nixon, “Peace with Honor,” Presidential Speech, January 23, 1973.
[6]The truth is, wars are fluid things and missions change. This is more the rule than the exception.
[7]Unwilling to abandon South Vietnam, the United States changed its mission to self-determination for Vietnam.
[8]Quân thuộc Mật trận Giải phóng miền Nam Việt Nam.
[9]Wikipedia, “Nixon Doctrine,” Free Encyclopedia Online.
[10]Richard Nixon, “President’s Speech on Vietnamization,” Washington, DC, November 3, 1969.
[11]Earl C. Ravenal, “Consequences of the End Game in Vietnam,” Foreign Affairs, July 1975.
[12]Earl C. Ravenal, “Consequences of the End Game in Vietnam,” Foreign Affairs, July 1975
[13]Richard Nixon, “Peace with Honor,” text of President Nixon’s radio and television broadcast announcing the initialing of the Paris Agreement, White House, January 23, 1973.
[14]Larry Berman, No Peace No Honor: Nixon, Kissioger, and Betrayal in Vietnam, Simon & Schuster Adult Publishing Group, August 2001.
[15]Earl C. Ravenal, “Consequences of the End Game in Vietnam,” Foreign Affairs, July 1975
[16]Ashifa Kassam, “The Rocky Road To Development In Vietnam,” CBC News Viewpoint, January 4, 2006

LỚN LÊN VỚI ĐẤT NƯỚC - Vy Thanh

LỚN LÊN VỚI ĐẤT NƯỚC - Vy Thanh
LỚN LÊN VỚI ĐẤT NƯỚC - Vy Thanh

SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH

SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH
Biên khảo: Mường Giang
Báo PNDĐ, số 164, năm 1997


...Những sự kiện xảy ra trên con đường mòn Hồ Chí Minh (HCM), hành lang xâm nhập người và tiếp liên từ miền Bắc vào Nam của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV), không phải là những huyền thoại hay bí mật ghê gớm đối với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Có điều lạ lùng là dù Mỹ đã biết rõ chiến lanh ác liệt trên lãnh thổ miền Nam Việt đều bắt nguồn từ Bắc Việt chứ không phải nội loạn và cuộc xâm lược quy mô đều khởi xuất tiếp diễn đều đặng trên hành lang Trường Sơn, vậy mà quân đội Mỹ, đồng minh và ngay cả quân lực VNCH đều bị giới hạn trong lúc chiến đấu với CSBV ở nhiều điểm gọi là Luật Chiến Đấu (Rules of Engagement) mà năm 1985, tức là 10 năm sau khi chiến tranh Đông Dương lần thứ 2 chấm dứt, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho giải mật. Tài liệu phổ biến này được hạn chế bởi Congressional Record gồm 26 trang, tóm tắc những luật chiến đấu của Mỹ tại Nam Việt Nam, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh; chẳng hạn như Điều Số 3 cấm Mỹ không được phép dội bom các quân xa của Bắc Việt nếu những xe này di chuyển cách đường mòn 200 mét, nghĩa là khi nghe máy bay Mỹ tới oanh tạc, các tài xế Bắc Việt chỉ cần lái xe vào các con đường gánh, tránh xa đường mòn là an toàn. Riêng Điều Số 6 thì cấm quân Mỹ truy kích quân đội Bắc Việt khi họ đã rút sang Lào hoặc Cam Bốt. Bởi vậy, phía bên Bắc Việt đã cho thiết lập các căn cứ hậu-cần ngay trong lãnh thổ của các quốc gia láng giềng này.

Cũng do sự cấm đoán trên, khi Tổng Thống Richard Nixon tổ chức các cuộc hành quân hỗn hợp Việt Mỹ, gọi là Toàn Thắng năm1970, để căt đứt sự tiếp vận trên đường mòn Sihanouk của Cộng Sản Bắc Việt tại Cam Bốt, thì đã bị dư luận Mỹ nhao nhao phản đối và Quốc Hội Mỹ biểu quyết bắt Mỹ rút quân ngay tức khắc.

Những sự việc nêu trên là một trong những bí mật và lý do khiến cho Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hòa dù đã tạo nhiều nỗ lực cũng như hao tốn thật nhiều xương máu, tiền bạc, bom đạn để làm đường dây liên lạc của Hà Nội từ hậu phương ra tiền tuyến bị cắt đứt, nhưng trong suốt cuộc chiến, Bắt Việt vẫn thành công trong việc chuyển quân và tiếp vận trên đường mòn Hồ Chí Minh cho nhóm cò mồi tại miền Nam Việt Nam. Theo tài liệu của Ngũ Giác Đài, thì từ lúc khởi chiến (1959) cho tới khi kết thúc chiến tranh năm 1975, Bắc Việt đã chuyển vào Nam hơn 2 triệu người gồm bộ đội, cán bộ, hàng triệu quân dụng lương thực để chi viện cho chiến trường Miền Nam.

ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Hầu hết con đường chiến lược Hồ Chí Minh đều nằm trên Rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (tỉnh Nghệ An, Bắc Việt), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng Trường Sơn là xương sống của miền Trung, khởi đầu từ Sông Cả tới sông Bông (tỉnh Quảng Nam) dọc theo biên giới Việt-Lào, trên có nhiều đỉnh núi cao tới 2,500 mét, như đỉnh Pu Xai Lai Leng ở tỉnh Nghệ An cao 2711 mét, Vụ Quang ở tỉnh Hà Tĩnh cao 2,286 mét, A Tuất ở tỉnh Thừa Thiên cao 2,550 mét. Có nhiều đèo dùng làm đường thông thương giữa Việt Nam và Lào như đèo Keo Nưa trên núi Bà Mụ, Đèo Mụ Già từ Hà Tĩnh sang Lào, Đèo Lao Bảo trên Quốc Lộ 9. Đây là những huyết lộ chính mà Cộng Sản Bắc Việt đã tận dụng để nối liền con đường Đông Trường Sơn (Việt Nam) sang đường Tây Trường Sơn trên đất Lào.

Rặng Trường Sơn từ phía Nam sông Bông tới miền Đông Nam phần được gọi là Cao Nguyên Nam Trung phần với độ cao trung bình 1,000 mét, ngoại trừ miền Bắc tỉnh Kontum, cửa ngõ của đường Trường Sơn xâm nhập vào Vùng 2 Chiến Thuật của Việt Nam Cộng Hòa có rất nhiều rặng núi cao đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2,598 mét), Mô Via (2,338 mét), Ngok Krin (2,215 mét). Trong tỉnh Pleiku, Cao Nguyên Nam Trung Phần hơi cao ở phía đông vùng giáp giới tỉnh Phú Bổn, Bình Định, nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Cộng Sản Bắc Việt cũng đã làm một nhánh rẽ từ Đức Cơ, Pleime để xâm nhập Pleiku, xuống miền duyên hải Trung phần.


Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn Hồ Chí Minh do Hai Xe Ngựa (tức Đại Tá Võ Bẫm) sáng tạo chỉ là một tuyến đường gùi, đi không để dấu, nấu không để khói, nói không thành tiếng. Sau đó, theo nhu cầu của chiến cuộc, phát triển dần dần thành đường xe với đường dây điện thoại và hệ thống ống dẫn dầu chạy song song với đường mòn. Có hàng trăm, hàng ngàn chi nhánh chạy chi chít dọc ngang từ đông sang tây, từ bắc xuống nam dãy Trường Sơn. Sau năm 1973 khi hiệp định Paris được ký kết, Mỹ chấm dứt can thiệp vào Việt Nam, CSBV tiếp tục xây dựng hệ-thống đường mòn thành một xa lộ đất. Năm 1974, Fidel Castro của Cuba đã tặng cho Hà Nội một dàn thiết bị máy móc làm đường của Nhật. Đoàn công binh của Cuba đã tới tận Trường Sơn để hướng dẫn công chính Bắc Việt sử dụng máy móc, làm chiếc cầu treo Dakrong ở Tchépone (khu vực Nam Lào).

Hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt được xâm nhập vào lãnh thổ Nam Việt Nam bởi 5 nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tổng cộng hơn 12,000 dặm Anh với các danh xưng khác nhau: Đoạn đường trên đất Bắc Việt được gọi là đường Hồ Chí Minh, còn các chặng đường khác gọi là đường Thống Nhất, đường Dân Tộc Giải Phóng, đường Xã Hội Chủ Nghĩa, v.v. Riêng khúc đường chạy trên đất Cam Bốt được gọi là đường mòn Sihanouk.

Hàng hóa, đạn dược, bộ đội sau khi xuất phát từ ga Hàng Cỏ (ở Hà Nội) hay Vinh (ở Nghệ An), Quán Trại (Đức Thọ, Hà Tĩnh) trước khi vào Quảng Bình, Quảng Trị phải qua thung lũng tử thần Đồng Lộc, một bên là dãy núi cao mang tên Rú Mòi, bên kia là núi Sọ Vôi, con đường nối liền Bắc Việt Nam và Lào, khởi đầu của con đường Trường Sơn cho tới Khâm Muôn (Lào) thì gặp Đường 20 Quyết Thắng từ Phong Nha (Quảng Bình, Bắc Việt) sang. Đường này dài 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng gìa Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

Theo báo Aux Ecoutes du Monde thì yết hầu của đường mòn Hồ Chí Minh nằm tại hải cảng Vinh, Nghệ An. Con đường cũng từ đó phân nhánh vượt Trường Sơn sang đất Lào để tránh sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Đường chạy trên khu tam giác của các thị trấn Napé, Kamkeut, Kanmon, dọc theo con sông Nampao, nơi đóng tổng hành dinh của Đoàn 559A, một quân chủng đặc biệt của Bắc Việt, gồm có công binh và vận tải với trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời quản trị, phân phối đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, tiếp liên từ Bắc vào chiến trường miền Nam.

Sau khi qua khỏi ngã ba đường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), đường mòn chung giữa khu rừng già Hạ Lào, song song với con sông Nạm Cà Dinh, tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Đường bắt đầu vượt qua Vĩ Tuyến 17 để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon), nằm trên Đường Số 9. Đây cũng là con đường phân nhánh đầu tiên để bộ đội Bắc Việt xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu, Quảng Trị.

Con đường mòn tiếp tục tới núi Ấp Bia cao 937 mét mà một ký giả ngoại quốc khi chứng kiến cảnh đẫm máu tại đây bởi đạn bom do các phi vụ và phi pháo, nên đặt tên là Hamburger Hill (trận đánh này xảy ra vào tháng 5 năm 1969), thì phân nhánh chạy vào các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau để từ đó tấn công Huế, Đà Nẵng.

Về phía Nam, gần khu vực Tam Biên, đường mòn sau khi vượt qua cao nguyên Boloven trên đất Lào lại phân thành 2 nhánh khác đâm vào lãnh thổ Nam Việt Nam. Một nhánh từ Saravane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum ngang qua các trại Lực Lượng Đặc Biệt của Việt Nam Cộng Hòa tại Bến Het, Dakto. Nhánh khác phát xuất từ Attopeu (bên Lào) vào Pleiku ngang qua các trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ và Pleime.



Nằm giữa 2 nhánh đường rẽ này là Mật Khu 609 của Bắc Việt gần khu vực Tam Biên. Đường Mòn Hồ Chí Minh từ đây chạy trong đất Cam Bốt và được gọi là đường mòn Sihanouk. Tại đây Bắc Việt cho thiết lập nhiều mật khu như 702, 701, 740, 203, 351, 350, 400, v.v. Trên đất Cam Bốt, đường mòn rẽ vào Chiến Khu D trong tỉnh Phước Long, phần còn lại chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Cam Bốt, để nhận trực tiếp hàng hóa của Nga, Tàu, hoặc khối Đông Âu (đến năm 1970 thì chấm dứt khi hoàng thân Sihanouk bị Đại Tá Lonnol lật đổ và tất cả các mật khu của Bắc Việt trên đất Cam Bốt bị liên quân Việt-Mỹ càn quét trong các cuộc hành quân Cửu Long và Toàn Thắng.

Suốt cuộc chiến, ngoài số người chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn cán binh, bộ đội gục ngã trên đường Trường Sơn vì trăm ngàn nỗi gian lao, cực nhọc và bệnh tật. Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh được vùi lấp vội vã trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn đã biến thành phân mục bón xanh tươi thêm cho cây lá rừng hoang như Quang Dũng năm nào viết:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Sông núi gầm vang khói độc hành...

Hoặc dòng thơ của Trần Xuân Lợi, một bộ đội Bắc Việt ghi như sau:

Những hồi mưa ngớt,
Tựa nghỉ gốc cây
Nhìn cây không nói
Nhìn mây chẳng thấy
Chỉ thấy núi đèo
Kế nhau nối tiếp
Ôi là khủng khiếp
Cho cảnh Trường Sơn

Hoặc những dòng thơ của Hoàng Phong Linh:

Đỉnh núi cao mây vờn
Đá nghìn năm quên tuổi
Ta lạc loài như dã thú không tên
Qua Tchepone, Boloven
Về Hạ Lào thăm thẳm
Atopeu đường xa muôn dặm
Rừng Tây nguyên heo hút trong tim...

Trên đường mòn, có nhiều đoạn chạy giữ rừng già bất tận, phi cơ kể cả không ảnh cũng bó tay ngoại trừ sự xâm nhập của các toán Lực Lượng Đặc Biệt VNCH hay Hoa Kỳ. Nhiệm vụ chính bảo vệ con đường được giao cho Đoàn 559A với nhiều binh trạm có quân số tương đương một trung đoàn, giữa 2 binh trạm là toán giao liên và khu vực tiếp tế. Vùng nào lo nhiệm vụ nấy, không ai được biết gì tới vùng lân cận. Đoàn 559A chỉ có trách nhiệm tới bên kia Vĩ Tuyến 17 mà thôi. Riêng trong lãnh thổ Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt các lộ giao thông tiếp vận cho chiến trường miền Nam được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ trong 3 tổng đội Thanh Niên Xung Phong (TNXP) miền Bắc. Biết bao nhiêu người tuổi trẻ đã gục chết giữa bom đạn khi họ bị bắt buộc bám trụ trên mặt đường để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc xong thì họ với sức người, cuốc, xẻng ào ra chiến trường để lấp hố bom, tái tạo mặt đường vừa bị cày nát, cho gia thông không bao giờ bị gián đoạn.

BỘ ĐỘI BẮC VIỆT TRÊN ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH

Với mục đích lừa gạt dư luận thế giới để chối bỏ công cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa bằng võ lực, Hà Nội lúc nào cũng tổ chức việc chuyển quân thật vô cùng bí mật và chu đáo. Đầu cuộc chiến, việc di chuyển từ Bắc vào Nam thật khó khăn, nguy hiểm và chỉ có quân bộ-chiến xâm nhập mà thôi, còn vũ khí, đạn dược, quân dụng được chuyển vận bằng con đường biển 559B do Tướng Đồng Văn Cống phụ trách.

Trước Tết Mậu Thân năm 1968, bộ đội miền Bắc vào Nam được bồi dưỡng và huấn luyện trong thời gian 8 tháng với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hà Nội mỗi ngày. Trước khi lên đường "sanh Bắc tử Nam" mỗi cán binh được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Trên đường tiến quân trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy Bắc Việt vẫn sử dụng quân phục bằng vải khaki Nam Định với mũ bầu có bọc vải, màu xanh lá cây. Quân xa sẽ chở họ tới đất Lào hoặc bằng đường Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nha (Quảng Bình), Vĩnh Linh (Quảng Trị). Từ đó, đi bộ tới vùng biên giới Việt Nam Cộng Hòa thì tất cả đều cải dạng thành những cán binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Sau đó họ phải giao lại cho cán bộ chính trị trong đơn vị những thứ dính dáng tới Bắc Việt, rồi tất cả đều mặc quần áo bà ba đen, mang dép râu, đội mũ tai bèo trông y như những cán binh Việt Cộng ở miền Nam. Các cờ hiệu đều dùng cờ MTGPMN và hát bản Giải Phóng Miền Nam.

Trước Hiệp Định Paris 1973 được ký kết, sự di chuyển trên đường mòn khó khăn nguy hiểm, kể cả con đường ở Trung Lào vì Không Quân Hoa Kỳ oanh tạc liên tục ngày đêm. Chỉ riêng đoạn đường từ Vinh tới thị trấn Tchepone ở Nam Lào cũng phải mất 2 đến 3 tháng. Sau đó, bộ đội Bắc Việt được giao-liên hướng dẫn theo các nhánh rẽ xâm nhập vào lãnh thổ Nam Việt Nam để hoạt động.

Năm 1973, Hiệp Định Paris được ký kết, Hoa Kỳ không còn can thiệp vào Việt Nam nên Bắc Việt tiến hành công khai, không còn che đậy như trước. Hệ thống Đường Mòn Hồ Chí Minh được tu bổ thành một xa lộ đất với nhiều địa điểm tiếp vận, khu dưỡng quân và bệnh xá dọc theo con đường. Một hệ thống dẫn dầu và đường dây điện thoại cũng được thiết kế chạy song song với con đường chính. Tại các mật khu, những địa điểm trọng yếu, quân Bắc Việt đặt một màng lưới phòng không dày đặt với các loại súng tầm-ngắn tầm-cao đủ cở.

Từ năm 1965-1967, mỗi tháng ước lượng 7,000 bộ đội chính qui Bắc Việt xâm nhập vào Nam và tính tới năm 1968, khi Bắc Việt gây cuộc tổng công kích trong những ngày Tết Mậu Thân, thì quân số chính qui Hà Nội có mặt tại Miền Nam đã hơn 100,000 người. Để chuyên chở, tiếp vận người và vũ khí, vật dụng vào lãnh thổ Nam Việt Nam, Bắc Việt đã huy động từ 1,250 đến 1,700 chiếc xe vận tải. Những xe này, như loại ZILS hoặc Molotova, đều có trọng tải từ 4 đến 6 tấn, và hầu hết do Liên Xô và Trung Cộng viện trợ. Ngoài ra còn có một binh đoàn dân-công khổng lồ chuyên lo về di chuyển hàng hóa bằng xe đạp và voi.

Sau chiến tranh, nhiều sự kiện lịch sử được bật mí từ các phe nhóm tham chiến, trong đó có sự thất bại của Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa về việc ngăn chận, phá vỡ hệ thống Đường Mòn Hồ Chí Minh, nhưng ngược lại cũng phơi bày ra ánh sáng sự chết chóc của hàng trăm ngàn cán binh Bắc Việt trên đường Trường Sơn qua các trận đánh, hoặc bị máy bay oanh tạc. Đồng thời, nhiều mật khu như 604 tại yết hầu Tchepone và 611 trong thung lũng Ashau cùng với nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu trên đường mòn bị phá hủy.



Lane Rogers, một Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ, viết như sau: "Để bảo vệ và hoạt động liên tục trên đường mòn, Hà Nội thí quân bất chấp lòng nhân đạo, do đó nhiều lúc con đường chính và 5 nhánh rẽ bị ngăn chận, đoàn kiến người vẫn có những ngõ ngách khác để tiếp tục vào Nam." Riêng Đại Tướng Westmoreland (cựu tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam) thì giải thích lý do sự thất bại của Mỹ khi muốn hủy diệt hệ thống Đường Mòn Hồ Chí Minh là trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, là gây sự sợ hãi chết chóc nhất trên thế giới.

MÁU ĐẪM TRƯỜNG SƠN

Hai mươi (20) năm chiến cuộc trên đất nước Việt Nam đã cướp mất đi hàng triệu thanh niên nam nữ và đồng bào vô tội, nhưng sự thật tàn bạo và man trá của cuộc chiến chỉ có người trong cuộc, những nạn nhân mới thấu hiểu, còn đại đa số đồng bào Miền Nam nơi các đô thị chỉ hiểu mù mờ qua tài liệu, báo chí. Họ đâu biết rằng trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Việt Nam Cộng Hòa, và Hoa Kỳ đã giành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn. Một bên thì quyết lòng, coi mạng người như cỏ rác, dùng máu xương để xây huyết lộ, quyết đem chủ nghĩa Cộng Sản áp đặt cho phần đất còn lại. Còn một phía thì dùng bom đạn, sức người, để phá hủy, cắt đứt, ngăn chận sự xâm nhập của kẻ áp đặt điên cuồng, say máu.

Kể từ ngày Thủ tướng Nga Nikita Kruschev phát pháo mở màn cuộc chiến gọi là "giải phóng toàn cầu" 6 tháng 1/1961, cũng là ngày Hà Nội chính thức tấn công Việt Nam Cộng Hòa cho tới 30 tháng 4/1975. Không ai biết rõ (ngoại trừ những người lãnh đạo Bắc Việt) có bao nhiêu cán binh, dân công, Thanh Niên Xung Phong và dân chúng đã thương vong vì cuộc chiến, bởi vì phía Bắc Việt luôn luôn bưng bít, che đậy và tuyên truyền. Nhưng hiện nay dẫu sau cũng còn rất nhiều nhân chứng vẫn còn nhớ và biết rõ về các trận đánh kinh hồn trên hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh, đó là những người bộ đội, những giao liên, hoặc những dân công Bắc Việt đã từng tham gia trong cuộc chiến.

Trên đất Bắc, trực diện với bom đạn hàng ngày là những nam nữ thanh niên trong các tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã chết tức tưởi ở ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Hưng Hóa (Quảng Trị) khi thi hành công tác. Họ chết đơn độc khi thi hành nhiệm vụ giao-liên, làm mốc hướng dẫn xe. Như một trường hợp đáng tiếc (theo nghĩa chiến tranh qui ước) đã xảy ra khi phi cơ Mỹ dội bom tiêu diệt tập thể một lúc 10 cô gái Thanh Niên Xung Phong của Tiểu Đội 4, Tổng Đội 53 TNXP Hà Tĩnh, tại ngã ba Đồng Lộc ngày 24 tháng 7 năm 1968 vì hầm trúng bom bị sập, hoặc như trường hợp 4 cặp thanh niên nam nữ TNXP và công binh bị chôn sống trong một hang núi ở Kẽ Bàng (Quảng Bình). Nhưng đây chỉ là những hạt muối bỏ biển, nếu đem so sánh với cái chết hàng trăm, hàng ngàn trên các tuyến đường mòn rẽ vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

HẾT

History of the Vietnam War 1954-75 - SỰ THẬT VỀ ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH
Từ đó, đi bộ tới vùng biên giới Việt Nam Cộng Hòa thì tất cả đều cải dạng thành những cán binh của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). ...vietnam.ictglobal.net/modules.php?name=News&file=article&sid=96

Từ Quốc Sách Ấp Chiến Lược đến Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn

Từ Quốc Sách Ấp Chiến Lược đến Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn



Trần An Phương Nam
Gia Đình CB/XDNT Bắc Cali


Khi thành lập công cụ xâm lược mang tên Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việït Nam (MTGPMN) vào tháng 12 năm 1960. Cộng Sản Hà Nội quyết tâm thực hiện giai đoạn khởi đầu trong sách lược thôn tính miền Nam qua mặt trận du kích chiến, trọng tâm của mặt trận này là “lấy nông thôn bao vây thành thị” nói cách khác là chúng muốn kiểm soát địa bàn nông thôn, tranh thủ nhân tâm người dân nông thôn để lợi dụng lòng yêu nước của họ ngõ hầu buộc họ phải cộng tác, nuôi dưỡng, che chở cho du kích quân cộng sản. Kế tiếp là chúng sẽ dùng nông thôn làm bàn đạp để tấn công, tiến chiếm các thành phố để cướp chính quyền. Thoạt tiên kế hoạch xâm lược miền Nam của cộng sản Hà Nội là như vậy, chúng mong muốn thôn tính miền Nam chỉ cần sử dụng mặt trận du kích chiến mà thôi, không cần sử dụng đến các mặt trận khác như trận địa chiến hay vận động chiến v.v...


Nắm vững được sách lược của địch. Mùa Xuân năm 1962, chính phủ Ngô Đình Diệm ban hành Quốc Sách Ấp Chiến Lược, đây quả là một đối sách đúng đắn và vô cùng lợi hại của chính quyền lúc bấy giờ, việc thi hành đối sách này đã làm cho từ bọn đầu sỏ chóp bu ở Hà Nội đến bọn công cụ tay sai MTGP ở miền Nam phải điêu đứng, hoang mang. Bởi vì mục tiêu căn bản của Quốc Sách Ấp Chiến Lược là tách rời du kích quân sự cộng sản ra khỏi nhân dân nông thôn, không cho chúng bám dựa vào nhân dân để xây dựng cơ sở và hoạt động phá hoại, cuối cùng là cô lập hoàn toàn để chúng phải chonï lựa, một là ra hồi chánh, hai là bị tiêu diệt. Tất cả các Ấp đều được bảo vệ bởi các rào cản kiên cố bao quanh, các cổng chính ra vào được canh gác đúng mức tùy theo địa thế, mỗi Ấp đều có từ một đến nhiều chòi canh có tầm nhìn xa, ban ngày người dân được tự do ra vào để làm ăn, tuy nhiên người lạ mặt muốn vào Ấp phải qua thủ tục kiểm soát chặt chẽõ, ban đêm các cổng chính ra vào được đóng lại, tuy nhiên các trường hợp cấp thiết của dân chúng vẫn được giải quyết. Ngoài ra, các Ấp Chiến Lược đều có thiết lập hệ thống báo động để phát hiện mọi trường hợp xâm nhập lén lút, bất hợp pháp vào Ấp. Việc quản lý Ấp do một Ban trị sự phụ trách, việc phòng thủ bảo vệ Ấp do lực lượng Phòng vệ dân sự phối hợp với các đơn vị Thanh niên, Thanh nữ Cộng Hòa của Ấp sở tại phụ trách. Ấp Chiến Lược được tổ chức theo phương thức tự quản, tự phòng và tự phát triển.



Quốc Sách Ấp Chiến Lược thực hiện rất hiệu quả công việc tát nước để bắt cá, mặt trận du kích chiến của cộng sản bị ngưng trệ, du kích quân và hạ tầng cơ sở của chúng gần như không chốn dung thân, chủ trương bám dựa vào người dân bị bẻ gãy từ trứng nước. Tóm lại, Quốc Sách Ấp Chiến Lược đang trên đà thăng tiến và tỏ ra hữu hiệu thì bất ngờ bị hủy bỏ bởi chính những người có quyền cao chức trọng trong chính thể VNCH. Thật đáng tiếc vô cùng!



Đầu năm 1965, nhận thấy sai lầm tai hại của quyết định hủy bỏ Quốc Sách Ấp Chiến Lược, trước hiện trạng nông thôn hoàn toàn bị bỏ ngõ, tạo điều kiện thuận lợi cho du kích quân cộng sản hoạt động và phát triển cơ sở hạ tầng. Chính phủ Phan Huy Quát đã thành lập chương trình Ấp Tân Sinh đồng thời tạo một đội ngũ Cán bộ để thực thi chương trình này. Tiếc thay lúc này tình hình an ninh tại các Ấp đã trở nên tồi tệ, việc phối trí Cán bộ Ấp Tân Sinh đến các Ấp đã gặp khó khăn, trở ngại đủ điều. Anh chị em phải hoạt động trong điều kiện không được bảo đảm an ninh, thiếu sự hợp tác cần thiết của chính quyền địa phương cũng như các đơn vị cơ quan bạn. Rất nhiều Ấp chỉ có một Cán bộ lẻ loi trước một khối công việc nặng nề, không kham nổi. Tóm lại với tình trạng vừa nêu trên, chương trình Ấp Tân Sinh không hiệu quả cũng là điều dễ hiểu.



Trước tình hình khẩn trương của đất nước nói chung và của nông thôn miền Nam Việt Nam nói riêng. Mùa Xuân năm 1966, Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Nội Các Chiến Tranh quyết định thiết lập Chương Trình XÂY DỰNG NÔNG THÔN, người trực tiếp phụ trách thực hiện Chương Trình này tại trung ương là Thiếu Tướng Nguyễn Đức Thắng, Tổng Ủy Viên Xây Dựng kiêm Tổng Thư ký Hội Đồng Xây Dựng Nông Thôn Trung Ương.



Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn có nội dung gồm 4 Tư tưởng Chỉ đạo, 5 Kỷ thuật Phát triển, 11 Mục tiêu và 98 Công tác (năm 1968 rút gọn còn 36 Công tác), được thực hiện qua 12 giai đoạn, còn gọi là 12 bước Công tác. Trọng tâm của Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn là xây dựng thành công các ẤP ĐỜI MỚI để biến Đời Cũ Tối Tâm thành Đời Mới Sáng Sủa cho nông thôn trong tinh thần tự túc, tự cường và tự vệ, thời gian cần thiết để xây dựng trở thành một ẤP ĐỜI MỚI là 6 tháng. Thời điểm bây giờ trên toàn lãnh thổ VNCH có trên 12 ngàn Ấp và được phân loại thành 5 hạng từ A đến E, trên toàn quốc có khoảng 700 Đoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn 59 người. Do đó, công việc phối trí các Đoàn 59 CB/XDNT được thực hiện như sau:



*Ưu tiên 1: các Ấp loại E, D *Ưu tiên 2: các Ấp loại C, B *Ưu tiên 3: các Ấp loại A.

Trong 11 mục tiêu xây dựng ẤP ĐỜI MỚI thì Mục tiệu 1: Tận diệt cộng sản nằm vùng và Mục tiêu 4: Đoàn ngũ hóa nhân dân, mà then chốt là thành lập Ấp đội Dân quân Tự vệ, được xem là 2 mục tiêu quan trọng hàng đầu. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, chính quyền của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã áp dụng Mục tiêu 4 này làm căn bản cho chương trình Nhân dân Tự vệ.



Bên cạnh các Hội Đồng XDNT Tỉnh, Quận mà các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng làm Chủ Tịch là các Tỉnh Đoàn, Liên Đoàn CB/XDNT (từ 1971 đổi thành Quận Đoàn). Là thành phần nồng cốt để thực hiện Chương Trình XDNT nên người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn được huấn luyện và đào tạo tương đối tốt để có khả năng hoàn thành nhiệm vụ.. Ngoại trừ số Cán Bộ cải tuyển từ các ngành mà môi trường hoạt đôïng là địa bàn nông thôn, tất cả Cán Bộ tân tuyển điều phải trãi qua 4 tuần thử thách tại một trong số những Đoàn Cán Bộ thuộc Tỉnh, sau đó đến Vũng Tàu để thụ huấn khóa sơ cấp tại Trung Tâm Huấn Luyện CB/XDNT Trung Ương trong 3 tháng, trong đó 6 tuần đầu được huấn luyện về căn bản quân sự, 6 tuần cuối được học tập về chính trị, lồøng trong 12 tuần thụ huấn này là những bài học về chuyên môn. Sau khi tốt nghiệp và trở về đơn vị Tỉnh, các tân Cán Bộ phải dự một tuần huấn luyện bổ túc, thường được tổ chức tại Trung tâm tu nghiệp công chức Tỉnh, do đại diện các Ty, Sở, Phòng có liên quan đến Chương Trình XDNT hướng dẫn trước khi được điều động đến công tác tại các Đoàn CB/XDNT trong Tỉnh.



Chương Trình XDNT là một đối sách lợi hại đã làm cho bọn đầu sỏ cộng sản ở Hà Nội và bọn tay sai của chúng ở miền Nam (MTGPMN) phải rúng động và căm hận tột cùng. Đầu năm 1967, Trung ương cục miền Nam (Cục R) đã ra một nghị quyết trong đó chỉ thị các Đội võ trang công tác chính trị (du kích quân), các đơn vị cơ động Tỉnh và các đơn vị chủ lực Miền hãy tập trung nổ lực Tìm Diệt các “Đoàn Bình Định ác ôn” đồng thời chúng đề ra khẩu hiệu: “Diệt một tên Bình Định ác ôn bằng tiêu diệt 3 tên giặc Mỹ xâm lược”.



Mặc dù tồn tại một số hạn chế và thiếu sót không tránh được. Tuy nhiên nhìn tổng thể từ nhiều góc cạnh, điển hình nhất là bộ mặt nông thôn VNCH vào đầu năm 1975 so sánh với đầu năm 1966 đã hoàn toàn thay đổi, trong đó sự thay đổi rõ nét nhất là về lãnh vực an ninh và lãnh vực phát triển. Do đó, có thể kết luận Chương Trình Xây Dựng Nông Thôn tương đối thành công, đồng thời người Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn cũng cảm thấy hãnh diện vì đã đóng góp công lao cùng xương máu cho sự nghiệp thiêng liêng của toàn dân, toàn quân ta là chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ miền Nam thân yêu trong nhiều năm dài miệt mài, gian lao nhưng đầy nghĩa khí./-

http://www.langchai.com/xaydungnongthon.htm

VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ

VIỆT NAM CỘNG HÒA BỊ BỨC TỬ
( LA MORT DU VIETNAM )


THAY LỜI TỰA

Ngày quốc hận 30/4/1975 đã qua đi trên 20 năm rồi.
Trong khoản thời gian 20 năm đó đã có rất nhiều người viết hay nói về những ngày cuối cùng của tháng tư đen lịch sử nầy, và gần đây nhất chúng ta thấy có ông Mac Namara cựu bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, với quyển hồi ký "Nhìn Lại Thảm Kịch và Những Bài Học Việt Nam" (In Retrospect, The Tragedy And Lessons Of Việt Nam). Ông cho tung ra quyển nầy vào đúng lúc cộng sản Việt Nam làm lễ lớn khắp nước ăn mừng 20 năm ngày mà họ cho là "Đại Thắng Mùa Xuân", mừng ngày chiến thắng "Mỹ-Ngụy"!

Hồi ký của ông đã để lộ hẳn cái hèn của một chánh khách Mỹ có tầm cỡ, vì ông không biết thẹn là đã có hành động phản bội với đồng minh, vừa bàn giao Việt Nam Cộng Hòa cho bọn cộng sản (nếu không muốn nói là bán đứng), vừa đổ hết trách nhiệm mất nước cho quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa.

Ông đã khóc (nước mắt cá sấu!) khi bị phỏng vấn trên đài ABC, thật tội nghiệp ! có lẽ khóc vì quá mắc cở và vì có quá nhiều mặc cảm tội lỗi trong chiến lược "phải để cho ta bị chiến bại". Ông không hề khóc cho 58,000 quân nhân Mỹ các cấp dưới quyền ông đã phải bị hy sinh oan uổng cho cái "thuyết domino" mà đến giờ nầy ông mới cho là sai, làm tủi hổ vong linh những người đã bỏ mình cho chính nghĩa chống Cộng của Thế Giới Tự Do (trong thời kỳ còn chiến tranh lạnh) đồng thời làm nhục cả quân nhân các cấp thuộ